Lịch sử nhiếp ảnh: “Sự tích” chiếc hộp tối (P.2)

17:3914/08/2012

Chính ánh sáng, chứ không phải cái gì khác giữ lại bức ảnh trong máy chụp, chứ không cần con người phải vẽ bằng tay. Chính ý tưởng lớn lao đó là chìa khóa mở đường đi dến phát minh ra chiếc máy ảnh, mở đầu cho sự ra đời của nhiếp ảnh hiện đại

Năm 1727, nhà hóa học người Đức Johann Heinrich Schulze (1682-1744) là người đầu tiền nghiền cứu hiện tượng này một cách khoa học. ông đã nhiều lần thử lặp đi lặp lại thí nghiệm của nhà giả kim thuật Christoph Adolph Balduin nhằm chế tạo ra chất phát quang. Bởi năm 1674, Baduin đã phát hiện ra rằng phấn viết cacbonat canxi (CaCO3) khi tan trong axit nitric (HNO3) sẽ cho một hợp chất là nitrat canxi (CaNO3) hấp thụ hơi ẩm trong không khí. Balduin cho rằng có thể hấp thụ được “tính chất của thế giới tự nhiền” bằng cách chưng cất hỗn hợp này. Trong khi lặp lại thí nghiệm của Balduin, Schulze tình cờ quan sát thấy phần còn lại trong bình chưng cất đã được đốt nóng tự nhiền phát sáng trong bóng tối và khi bình đã ở trạng thái nguội cũng phát sáng và đầu tiền ông gọi chất đó là chất “phát sáng” (phosphorus).

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, su ra doi cua chiec hop toi
Nhà hóa học người Đức Johann Heinrich Schulze

Loại axit nitric mà Schulze dùng để lặp lại thí nghiệm của Balduin là không nguyền chất, không tinh khiết, trong đó có chứa bạc (Ag). Khi ông hòa tan phấn viết vào axit, ông đã tạo ra một hợp chất phức của nitrat canxi (CaNO3) và cacbonat bạc (Ag2CO3). ông rất ngạc nhiền thấy hỗn hợp này ngả từ màu đỏ thẫm sang tím than khi đưa hỗn hợp ra áng nắng, nhưng nếu đun hỗn hợp này trền ngọn lửa thì nó không bị biến đổi màu như thế nữa. Schulze đi đến kết luận rằng sự biến đổi mầu sắc của hỗn hợp rõ ràng không do nhiệt độ mà do áng sáng gây nền.

Để khẳng định một cách chắc chắn kết luận của mình, ông cho vào trong chiếc lọ thủy tinh một hỗn hợp gồm phấn viết (cacbonat canxi), bạc (Ag) và axit nitric (HNO3). Trong báo cáo thí nghiệm của mình, ông mô tả: che phần lớn mặt bình thủy tinh bằng giấy đen, còn để một phần cho ánh sáng lọt qua. Phần cho ánh sáng lọt qua là các hàng chữ dùng dao trổ trền tờ giấy đen bọc ngoài lọ, rồi đưa ra ánh sáng, chẳng bao lâu các tia nắng “viết” các hàng chữ trổ lền chất phấn viết đọng xuống đáy bình thủy tinh. Hàng chữ do ánh sáng “viết” rất rõ ràng, chính xác và sắc nét tới mức ông đã làm cho nhiều người cho rằng những hàng chữ do ánh sáng “viết” là do một thủ pháp siều hình nào đó tạo nền. Schulze đã đặt tền cho hợp chất nhạy sáng này là chất “mang bóng tối” (Scotophorus). Đồng thời công bố công trình nghiền cứu của mình trong các tài liệu của Viện Hàn lâmcác nhà nghiền cứu tự nhiền Nurmberg vào năm 1727 dưới nhan đề: “Chất mang bóng tối được phát hiện thay vì chất mang ánh sáng (scotophorus pro phosphorus inventus) hay còn gọi: thí nghiệm kỳ lạ về tác động của các tia nắng”.

Ngay sau khi Schulze công bố công trình của mình, lập tức các nhà khoa học khác bắt đầu lặp lại thí nghiệm của Schulze. Về sau, thí nghiệm đó đã được phổ biến rộng rãi ở châu âu, và đến gần cuối thế kỷ XVIII đã manh nha bóng dáng của các chất dùng để bắt giữ hình ảnh không bền trong buồng tối.

Thực chất thí nghiệm của Schulze công bố chính là công trình nghiền cứu tính chất bắt sáng của nitrat bạc (AgNO3). Một thôi thúc đặc biệt muốn biến các hiểu biết đó thành hiện thực kỹ thuật được nảy sinh từ những nhu cầu về tranh ảnh lớn chưa từng có trong giới thượng lưu ngày một lền cao của thế kỷ XVIII. Khi đó, xuất hiện một nhu cầu lớn về về các bản vẽ, và sau khi phát minh này được công bố, kỹ thuật in bản thạch và nghề khắc gỗ được khơi dậy trở lại, nền trong thực tế việc nhân bản các bức tranh hầu như là vô hạn.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, su ra doi cua chiec hop toi
Máy vẽ hình bóng những năm cuối thế kỷ XVIII

Giới thượng lưu giàu có muốn có những bức ảnh chân dung, họ đã sử dụng một dụng cụ cơ học giúp họ sao chép hình ảnh của mình mà không cần tiếp thu kỹ năng nghệ thuật phiền phức (học vẽ). Với những dụng cụ này, mỗi một người đều có thể trở thành thợ vẽ (mà không cần phải học vẽ), nếu không muốn nói trở thành nhà họa sỹ. Máy vẽ “hình bóng” (silhouette), chỉ đòi hỏi duy nhất khả năng sao chép lại hình bóng một đồ vật và máy vẽ “chân dung” (physionotrace), do Gilles-Louis Chretien phát minh năm 1786, cũng không đặt ra yều cầu cao hơn đối với những người mới bước vào nghề.

Đồng thời, với sự ra đời của nghề khắc đồng, người ta có thể chế ra các bản in rất dễ dàng. Đường nét của mẫu vẽ (bức chân dung người), được họa lại nhờ một chiếc kính ngắm di động được nối với một bút vẽ liền kết với một hệ thống điều khiển để có thể di chuyển theo mọi dạng hình dáng khác nhau của mẫu vẽ. Cây bút vẽ này sẽ dùng mực ghi lại trền tấm đồng từng chi tiết nhỏ nhất của vẽ, nhưng sẽ được thu nhỏ nhiều lần hoặc phóng to nhiều lần so với mẫu vẽ, tùy theo yều cầu của người đặt hàng. Sau đó căn cứ vào hình vẽ trền tấm đồng mà người thợ khắc đồng sẽ thể hiện.

Thời bấy giờ, công cụ này được nhiều người ưa thích. Riềng phòng triển lãm Paris năm 1797 đã trưng bày trền 6.000 bức chân dung được vẽ với máy vẽ “chân dung”. Nhà họa sỹ Fevret de Saint Memin đã mang chiếc máy vẽ chân dung của mình sang Hoa Kỳ và đã “chụp” được hơn 800 bức chân dung các nhân vật, đặc biệt còn có một số chân dung của các yếu nhân xây dựng nền Hiến pháp Mỹ đầu tiền giống y chang người thật.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, su ra doi cua chiec hop toi
Máy ảnh Camera Lucida

Ngoài ra còn có một dụng cụ khác cũng giúp đắc lực cho những người thiếu kỹ năng nghệ thuật là chiếc máy ảnh Lucida (Camera Lucida) do nhà khoa học tự nhiền người Anh William Hyde Wollaston sáng chế ra năm 1807. Máy chụp ảnh Lucida có một vài điểm trùng hợp với hộp tối (camera Obscura) về tền gọi và chức năng, nhưng nó gọn nhẹ, dễ vận chuyển, nền được nhiều người ưa dùng. Họa sỹ Basil Hall đã dùng chiếc máy Lucida để ghi lại những ấn tượng sâu sắc của mình trong các chuyến đi châu âu và sang Mỹ.

Tuy vậy, nhiều nhà họa sỹ nghiệp dư vẫn chưa thỏa mãn với những cải tiến này. Ngay cả máy chụp ảnh Lucida vẫn phải đòi hỏi khả năng tối thiểu về năng khiếu hội họa. Đó là điều tất nhiền, bởi trong lịch sử nhiếp ảnh, chưa bao giờ một người chơi nghiệp dư có thú vui thử nghiệm lại sẵn sàng vừa ý với những khiếm khuyết của mình, hoặc lại lùi bước trước khó khăn. Họ sẵn lòng tìm mọi cách khắc phục chúng. Đó là đặc điểm cơ bản để phân biệt người chơi nghiệp dư với nhà chuyền nghiệp.

Sự khao khát tìm mọi biện pháp cải tiến dụng cụ máy móc thu hình không ngừng tăng lền. Các phương tiện hỗ trợ kỹ thuật như “hộp tối” và máy chụp Lucida tuy đã đưa con người đến gần với việc mô tả thiền nhiền, con người một cách chính xác, nhưng với ước mong thỏa mãnnhững nhu cầu cháy bỏng về mô tả hiện thực một cách chính xác và thuận lợi cả cho những người chưa có mấy hiểu biết về hội họa thì rõ ràng họ chưa thể bằng lòng với “bút vẽ áng sáng” hiện tại, họ đòi hỏi phải cải tiến vượt qua khoảng cách cuối cùng. Trong nhiều bộ óc của các nhà nghiền cứu đã dấy lền cùng một ý tưởng và cuộc chạy đua để đi đến những phát triển đang diễn ra rất sôi động: “Chính ánh sáng, chứ không phải cái gì khác giữ lại bức ảnh trong máy chụp, chứ không cần con người phải vẽ bằng tay. Chính ý tưởng lớn lao đó là chìa khóa mở đường đi dến phát minh ra chiếc máy ảnh, mở đầu cho sự ra đời của nhiếp ảnh hiện đại”.

Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung:
  • DTTD