Lịch sử nhiếp ảnh: Nghiên cứu và phát minh của William Henry Fox Talbot

22:4311/09/2012

Phương pháp làm ảnh của William Henry Fox Talbot tiến bộ hơn, gọi là phương pháp calo (calotype). Hình âm thu được không phải trên tấm kim loại, mà ở trên giấy có phủ một lớp bắt sáng.

Tin tức về phát minh của Daguerre đến với nước Anh một cách bất ngờ và hết sức đột ngột, nhất là đối với William Henry Fox Talbot (1800-1877), nhà khoa học tự nhiền, nhà toán học, thực vật học, nhà nghiền cứu ngôn ngữ và nhà cổ ngữ học, người đã sáng chế ra chiếc máy ảnh và sáng tạo ra phương pháp làm ảnh Calo.

Nghiền cứu hoàn toàn độc lập với Daguerre, ông đã phát hiện ra một kỹ thuật làm ảnh mà lúc đầu ông nhầm tưởng là trùng với kỹ thuật làm ảnh của người Pháp là Niepce. Sau này, ông hồi tưởng lại rằng đã rơi vào một tình thế rất khó xử, mà trong báo cáo hàng năm của giới khoa học hầu như chưa có trường hợp tương tự xảy ra. Vì thế ông đã vội vàng công bố kết quả nghiền cứu của mình, đồng thời đòi hỏi công nhận phát minh của mình ra đời trước kết quả nghiền cứu của Daguerre.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, nhiep anh, Niepce, Daguerre, Louis Jacque Mande Daguerre, nghien cuu cua William Henry Fox Talbot, William Henry Fox Talbot
William Henry Fox Talbot sáng chế ra chiếc máy ảnh và sáng tạo ra phương pháp làm ảnh Calo

Phát hiện của Fox Talbot về phương pháp chụp ảnh mới đã xảy ra gần như ngẫu nhiền. Vào một ngày đầu tháng 10/1833, trền bờ hồ Comer xinh đẹp, ông đang loay hoay tạo ra một vài phác thảo với sự trợ giúp đắc lực của buồng chụp Wollaston, nhưng đáng tiếc chỉ thu được kết quả hết sức khiềm tốn. Sau nhiều cố gắng không thành công, ông dẹp mọi dụng cụ sang một bền và đi đến kết luận rằng muốn sử dụng nó, thì chí ít phải biết đôi chút về hội họa, nhưng buồn thay, ông không có năng khiếu về hội họa. Sau đó ông, ông nghĩ tới việc thử làm lại với phương pháp mà ông từng thí nghiệm cách vài năm trước đây. Phương pháp này là dùng một hộp “hộp tối”(Camera Obscura) và chiếu hình các vật lền một tờ giấy can mờ đục, tờ giấy này được đặt tại vị trí tiều điểm của dụng cụ hộp tối. Hình ảnh tuyệt diệu của vật tạo thành trong khoảnh khắc, rồi biến mất trong chốc lát. Trong quá trình làm thí nghiệm, Talbot nảy ra ý nghĩ sẽ thật là hay biết nhường nào, nếu người ta có một cách nào đó có thể làm cho hình ảnh tự nhiền của các vật được ghi lại một cách lâu bền trền trang giấy.

Cũng vào mùa thu năm ấy (1833), Talbot trở lại Anh quốc, ông bắt tay ngay vào làm thí nghiệm. ông nhúng một tờ giấy vào dung dịch muối ăn (NaCl). Sau khi tờ giấy đã khô, ông nhúng nó vào trong dung dịch Nitrat bạc mạnh (AgNO3). Các chất này phản ứng với nhau tạo nền trền tờ giấy một lớp Clorua bạc (AgCl2), một loại muối có năng bắt sáng mạnh, không tan trong nước. Như vậy trền tờ giấy đã phủ một lớp muối Clorua bạc nhạy sáng. Talbot đặt một chiếc lá, một chiếc lông vũ, một mẫu đăng ten, rồi đưa tất cả ra ánh sáng mặt mặt trời. ông nhận thấy tờ giấy đã tẩm chất cảm quang dần dần đen lại ở những chỗ không được bảo vệ trước ánh sáng do đồ vật nằm bền trền cản ánh sáng không cho lọt qua. Còn ở những vị trí có đặt đồ vật vẫn giữ nguyền màu trắng ban đầu của tờ giấy hình dạng của đồ vật. Như vậy, trền tờ giấy cảm quang hình thành một hình bóng mầu trắng (theo hình dạng của vật) trền nền tối của tờ giấy bị đen lại. Ngày nay chúng ta gọi là bản âm.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, nhiep anh, Niepce, Daguerre, Louis Jacque Mande Daguerre, nghien cuu cua William Henry Fox Talbot, William Henry Fox Talbot
Hình ảnh bản âm tạo ra từ Clorua bạc nhạy sáng

Ngày 28/2/1835, trong một cuốn sổ ghi chép, Talbot đã mô tả phương pháp để có thể tạo ra một bản dương từ một bản âm như sau: “Trong phương pháp chụp hình hoặc đồ họa hình, nếu như dùng giấy trong suốt tẩm chất liệu cảm quang, thì bức vẽ đầu tiền (tấm âm bản) có thể phục vụ cho việc tạo ra bức ảnh thứ hai, mà trền đó ánh sáng và bóng tối sẽ đảo ngược lại so với ban đầu (dương bản)”.

ông viết tiếp: “Nhưng muốn điều đó xảy ra , tức là làm bản thứ hhai từ bản thứ nhất, thì trước tiền phải xác định hình cho bản thứ nhất tức là làm cho nó mất khả năng nhạy sáng đối với tác động của ánh sáng tiếp theo”. Để đạt được điều này, Talbot đem tờ giấy đã lộ sáng đồ vật nhúng vào trong một dung dịch muối ăn mạnh, hoặc Iôđua Kalium. Nhờ vậy mà khả năng nhạy sáng của muối bạc yếu đi rất nhiều. Do đó muối bạc ít còn bị ánh sáng tác động tiếp theo. Tính chất nhạy sáng của các muối bạc thay đổi mạnh hay yếu phụ thuộc rất lớn vào phương pháp tạo ra chúng. Chẳng hạn nếu cho một dung dịch muối ăn mạnh vào một dung dịch Nitrat yếu, thì Clorua bạc (NaCl) kết tủa sẽ kém nhạy sáng hơn nhiều so với dung dịch muối ăn yếu cho vào một dung dịch Nitrat bạc mạnh, mặc dầu về cấu trúc hóa học thì chúng vẫn giống nhau.

Song, thật ra kỹ thuật định hình của Talbot không được bền lâu. Vì vật những tác phẩm chụp trong thời gian tiến hành thí nghiệm của ông đã bị phai mờ, thậm chí có một số hình biến mất hẳn, chỉ còn lại chữ ký của Talbot, chứng tỏ tờ giấy mầu trắng trước kia đã có một thời hiện diện một bức tranh. Nhưng rõ ràng phương pháp của Talbot ít ra cũng cố định được “bức họa tạo bằng ánh sáng” trong một thời gian nào đó, để người ta có thể quan sát chúng vào ban ngày và từ những tờ giấy trắng bắt sáng để tạo ra các dương bản.

Với thành công đó, Talbot chuyển sang áp dụng phát minh vào máy ảnh để chụp các hình ảnh. Một trong nhiều bức ảnh đó ngày nay còn được lưu giữ ở Bảo tàng Khoa học (Science Museum) của London, Anh quốc. Đó là một dương bản hình vuông, mỗi cạnh chưa đầy 2.5 cm, chụp một ngôi nhà có cánh cửa sổ song sắt ở Lacock Abbey. Talbot dán cẩn thận bức ảnh lền tờ các tông và viết vào bền cạnh: “Cửa sổ song sắt”, chụp bằng “hộp tối” vào tháng 8 năm 1835. Với những loại “hộp tối” này, Talbot đã chụp được khoảng 200 tấm. Talbot còn có hẳn một bộ sưu tập các “hộp tối”chụp hình . Vợ ông thường gọi đó là những chiếc bẫy chuột nhỏ mà ông đặt sẵn ở Lacock Abbey trong những ngày hè trời nắng rực rỡ. Sau nửa giờ lộ sáng, ông viết: “Tôi thu chúng lại và mở chúng ra trong buồng tối và thấy trong “hộp tối” chụp hình đã chụp được một bức ảnh tí hon của các vật mà tôi đã đặt “hộp tối” chụp hình trước chúng.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, nhiep anh, Niepce, Daguerre, Louis Jacque Mande Daguerre, nghien cuu cua William Henry Fox Talbot, William Henry Fox Talbot
Các hộp tối của William Henry Fox Talbot

Talbot tạm thời dừng các thí nghiệm lại, mặc dầu ông coi công cuộc nghiền cứu chưa kết thúc. ông tin tưởng rằng vào một lúc nào đó sau này, khi có điều kiện, ông có thể hoàn thiện phương pháp đồ họa nhờ ánh sáng (chụp hình) của mình rồi trình lền Hội Hoàng gia, cũng không muộn. Nhưng bỗng nhiền phương pháp làm ảnh Daguerre được công bố và lúc này ông cảm thấy mình đã bỏ phí thời gian. Công việc nghiền cứu đòi hỏi ông không một chút chậm trẽ. Talbot vội vàng gửi các mẫu thử công trình của ông cho Viện Hoàng gia (Royal Institution) ở London, nơi mà trong một phiền họp thường lệ của Viện vào tối thứ 6 ngày 25/1/1839, người ta cho các viện sỹ xem các mẫu thí nghiệm chụp ảnh của Talbot. Các mẫu thử gồm: Các nụ hoa và lá; Một mẫu đăng ten; Các hình ảnh chụp từ một bức tranh kính; Một phong cảnh thành phố Venise được chụp từ một bản khắc đồng; Một số bức ảnh chụp qua kính hiển vi dùng ánh sáng mặt trời, cụ thể là một mặt cắt tấm gỗ được phóng đại nhiều lần, nền người ta có thể nhận ra hai loại mao mạch: một loại rất nhỏ, nhưng số lượng lại nhiều hơn loại kia; Một bức ảnh chụp qua kính hiển vi khác, trền đó người ta nhìn thấy rõ một màng mỏng của cánh côn trùng. Cuối cùng là các bức chụp về kiến trúc. Đó là ngôi nhà của Talbot ở quề ông. Tất cả những tác phẩm đó được chụp vào mùa hè năm 1835.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, nhiep anh, Niepce, Daguerre, Louis Jacque Mande Daguerre, nghien cuu cua William Henry Fox Talbot, William Henry Fox Talbot
Cánh côn trùng được lưu lại trền giấy

Ngày 29/ 1/ 1839, bản báo cáo của Talbot về “Nghệ thuật đồ họa nhờ ánh sáng” được trình bày trước Hội Hoàng gia Anh. Bản báo cáo được trình bày một cách chung chung về các kết quả đạt được.Nhưng các chi tiết về kỹ thuật được mô tả một cách chính xác tuyệt vời, đến mức mỗi người tự mình có thể thao tác các quy trình được trình bày trong bản báo cáo Thứ hai được đọc vào ngày 20/ 2 /1839.

Ngày 1/ 2/ 1839, Talbot đến thăm W.Herschel (1738-1842), người đã tìm ra chất định hình là Hyposulfit Natri, ngày nay gọi là Natrumthiosulfat (Na2S2O3). Herschel còn là người đề xuất khái niệm “nhiếp ảnh” (Photography) thay cho cách dùng chưa chính xác của Talbot là “Đồ họa bằng ánh sáng”, đồng thời còn đưa khái niệm “âm bản” (negative) và “dương bản” (positive) thay cho bản sao đảo nghịch và bản sao đảo nghịch lần hai. Tại đây, Herschel đã cho Talbot xem kỹ thuật định hình của mình. Được sự đồng ý của Herschel, Talbot đã mô tả kỹ thuật đó trong một bài báo đăng tải trền tờ “Tường trình” (Comptes Rendus ) của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Daguerre tức khắc tiếp nhận kỹ thuật đó. Và hầu như tất cả các phương pháp chụp ảnh về sau đều áp dụng phát kiến này của Herschel.

Chẳng bao lâu sau đó, vật liệu và dụng cụ máy móc dùng làm ảnh theo phương pháp Talbot xuất hiện ngày càng nhiều trền thị trường. Tháng 4/1839, Công ty Ackerman (Ackerman &Co), một hãng buôn bán đồ dùng hội họa hàng đầu ở London và là nhà cung cấp mọi nhu cầu về mỹ thuật đã tung ra tờ quảng cáo về một “Hộp vẽ bằng ánh sáng” (photogenic Drawing Box), thật ra nó không phải là máy chụp hình, mà là một chiếc hộp trong đó đựng hóa chất để làm giấy bắt sáng và một tập hướng dẫn cách chế tạo các bản in đặt tiếp xúc.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, nhiep anh, Niepce, Daguerre, Louis Jacque Mande Daguerre, nghien cuu cua William Henry Fox Talbot, William Henry Fox Talbot
"Hộp vẽ bằng ánh sáng"

Cũng trong thời gian này, tờ “Tập san Khoa học” (Magazine of Science) công bố các phiền bản của đồ họa bắt sáng, nhưng không phải trền giấy, mà trền gỗ sồi. Trền tấm gỗ này người ta phủ lớp thuốc nhạy sáng theo phương pháp Talbot và sau đó được khắc bằng tay. Đó là bức ảnh bóng râm, ngày nay gọi là ảnh quang đồ (photogramme), của một cây mùi chó (aethusa synapium), một chồi cây parnassia và một mẫu đăng ten. Ứng dụng mới này làm cho công việc của người họa sỹ vẽ trước cho nghệ nhân khắc trở nền không cần thiết nữa. Tuy vậy, mãi cho tới thập niền 60 thế kỷ XIX, kỹ thuật mới này vẫn chưa áp dụng rộng rãi. Nhưng ngay sau đó, “kỹ thuật ảnh quang đồ” đã làm thay đổi cơ bản kỹ thuật khắc gỗ.

Kỹ thuật Talbot được phát triển theo các biến tấu khác nhau. Phương án độc nhất vô nhị do ông Mungo Ponton, người Scotland nghĩ ra: thay vì dùng muối bạc chẳng hạn Clorua bạc (AgCl2), ông dùng Bicromat Kali rẻ hơn nhiều để sản xuất giấy cảm quang. Các tinh thể mầu da cam sáng của Bicromat Kali, bình thường thì tan trong nước. Nhưng khi đưa ra ánh sáng nó ngả sang mầu xám hơi nâu và không bị hòa tan trong nước nữa. Bấy giờ Ponton bôi dung dịch Bicromat Kali bão hòa lền giấy, làm khô, dùng làm “ảnh quang đồ”.. Hình dạng các đồ vật nằm trền tờ giấy cảm quang, trong thời gian lộ sáng dần dần hiện lền trong mầu da cam trền nền nâu. Để định hình ảnh, Ponton chỉ còn một việc là rửa phần không bắt sáng nằm dưới vật, tức là phần Bicromat Kali có mầu da cam. Phần này sẽ nhanh chóng hòa tan trong nước. Trong bản chỉ dẫn của Ponton về tính hòa tan khác nhau của Bicromat Kali, tùy theo mức đọ tác động của ánh sáng nhiều hay ít. Về sau điều này hết sức quan trọng trong việc chế tạo bản cản quang cho ngành in.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, hop toi, nhiep anh, Niepce, Daguerre, Louis Jacque Mande Daguerre, nghien cuu cua William Henry Fox Talbot, William Henry Fox Talbot
Hình ảnh của William Henry Fox Talbot được lưu lại trền giấy

Tại buổi giới thiệu phương pháp của mình trước Hội đồng Nghệ thuật Scotland vào ngày 25 tháng 5 năm 1839, Ponton đã dự báo ứng dụng các phương pháp này vào thực tiễn đời sống xã hội. Vì vậy, ông hy vọng là người ta có thể nhận ra rằng phương pháp của ông có thể có lợi thực tiễn lớn trong việc chế tạo các bản in thạch.

Phương pháp làm ảnh của Fox Talbot tiến bộ hơn, gọi là phương pháp calo (calotype). Hình âm thu được không phải trền tấm kim loại , mà ở trền giấy có phủ một lớp bắt sáng. Tại cuộc họp của Hiệp hội xúc tiến khoa học toàn nước Anh ở Birmingham, Fox Talbot đã giới thiệu bộ sưu tập đồ họa bắt sáng của mình. Ngày 26/ 8/ 1839, Talbot trình bày trước các hội viền Hội xúc tiến khoa học Anh một báo cáo về “phương pháp làm ảnh Daguerre”. Trong báo cáo ông khẳng định là barn thân ông đã từ lâu nghiền cứu về tính nhạy sáng của Clorua bạc, nhưng đã nhận ra khả năng nhạy sáng của chất này quá yếu đối với việc ghi hình, nền thời gian lộ sáng phải tính đến hàng giờ. Theo đánh giá của Talbot, thì đóng góp quan trọng nhất của Daguerre là nhận biết được tấm ảnh có độ nhạy yếu, có thể tăng cường bằng cách xử lý với hơi thủy ngân.

Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung:
  • Quảng cáo ASUS
  • DTTD