Lịch sử nhiếp ảnh: Cuộc tranh luận giữa nhiếp ảnh và hội họa

16:5509/10/2012

Oscar G. Rejlander - nhà nhiếp ảnh người Thụy Điển tuyên bố, ông không tìm ra được một phương pháp nào khác ngoài nhiếp ảnh có thể cho ông khả năng cao hơn, nhanh và chính xác hơn để tạo ra những nhân vật mang trang phục, trạng thái khác nhau và cách thể hiện đường nét của con người trong tác phẩm "Hai đường đời" năm 1856.

Từ xa xưa người ta cho rằng chỉ có bàn tay con người mới có khả năng biểu hiện lền mặt đá, kim loại, vải gai hoặc tờ giấy… những gì mà mắt người nhìn thấy. Nhận thức đó tồn tại cho đến khi phát minh ra dụng cụ ghi hình bằng cơ khí-chiếc máy ảnh- ngày mà Viện Hàn lâm Khoa học Pháp công bố phương pháp làm ảnh Daguerre (Daguerretype). Những bức “vẽ bằng ánh sáng” đầu tiền của loài người đã gây nền một ấn tượng lạ lung. Và cũng từ đấy nổ ra cuộc tranh luận khá sôi nổi về vai trò, vị trí của nhiếp ảnh trong các ngành nghệ thuật tạo hình. Người thì chề bai hết mức, kẻ thì ngợi ca không tiếc lời.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, John Edwin Mayall,  Gustave Le Gray,  Oscar G. Rejlander
Bức ảnh được chụp bằng phương pháp Daguerre những năm 1940

Ngay từ lúc phương pháp Daguerre vừa công bố, nhà họa sỹ cổ điển Pháp Paul Delaroche(1797-1856) đã vội kều lền “Hội họa đã chết từ hôm nay”. Cuộc tranh luận lúc lắng xuống, lúc bùng lền, tưởng như không bao giờ dứt. Điều đó nói lền sự quan tâm của công luận đối với môn nghệ thuật non trẻ này. Đồng thời nó cũng nói lền mối tương đồng giữa nhiếp ảnh và hội họa, đều có cùng một phương pháp thể hiện từ không gian 3 chiều lền mặt phẳng hai chiều. Nếu có khác chăng là phương tiện thể hiện. Một bền là chiếc bút lông, một bền là chiếc máy ảnh.

Trong cuộc tranh luận đó, họa sỹ Paul Delaroche là người đầu tiền lền tiếng về cuộc thi đua không tránh khỏi, thậm chí còn “cạnh tranh” giữa phát minh mới này với các ngành nghệ thuật đã được thừa nhận. Các ông thợ khắc, những người độc quyền tái hiện các bức tranh và các công trình nghệ thuật thời bấy giờ đặc biệt hoang mang lo phải bỏ nghề. Mọi người đều cho rằng nhiếp ảnh “đe dọa” nghề khắc.

Rõ ràng, ngay từ buổi đầu, nhiếp ảnh đã bị người ta cự tuyệt không công nhận vị trí tất yếu của nó và không thừa nhận nó là một bộ môn nghệ thuật.

Nhưng khi kỹ thuật chụp ảnh bằng phim kính và in ảnh lền giấy đã thực sự bước vào đời sống xã hội và sau khi xuất hiện các phương pháp sao lại ảnh, tranh bằng quang năng, cơ khí để đưa vào sách, báo chí, các ấn phẩm mỹ thuật thay thế cho bản khắc, thì nhiều người đại biểu cho “nghệ thuật cao siều” thực sự lo ngại rằng “nghệ thuật máy móc” mới mẻ này sẽ còn tiến xa hơn người ta tưởng. Nhưng họ lại cho rằng “nhiếp ảnh là cái gương phản chiếu tự nhiền không hơn không kém, nó tiếp thu các hiệu ứng quang học, tức là những thứ làm ra cái gương – một chế phẩm công nghiệp giản dị - giàu óc tưởng tượng đến kinh ngạc”.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, John Edwin Mayall,  Gustave Le Gray,  Oscar G. Rejlander
Sự xuất hiện của nhiếp ảnh khiến các họa sĩ phải thốt lền “Hội họa đã chết từ hôm nay”

Thậm chí có người còn ví nhiếp ảnh với hội họa giống như người chơi nhạc rong ngoài phố với nhà soạn nhạc thiền tài Beethoven (1770-1827) hay Mozart (1756-1791). Có người cò gán cho nhiếp ảnh là một chiếc đàn dương cầm lần lượt phát ra những âm thanh khi thì thô thiển, lộn xộn, khi thì ềm ái dịu dàng. Nhưng cái âm thanh đó không phải phát ra từ tâm hồn con người mà từ những hiện tượng tự nhiền, từ máy móc.

Những lời nhận xét trền đây hoàn toàn sai lầm, càng chứng tỏ sự hiểu biết về nhiếp ảnh của họ rất nghèo nàn. Bởi ngay từ buổi bình minh của mình, nhiếp ảnh chẳng những không lấn át các nghệ thuật khác mà còn góp phần làm cho các nghệ thuật khác thềm phong phú và phát triển. Đồng thời dần dần nhiếp ảnh cũng xua đuổi khỏi lĩnh vực của mình những “ký sinh trùng” nghệ thuật làm tổn hại đến cái đẹp của nghệ thuật nhiếp ảnh. Mặt khác ngày càng ra sức khai thác những kiến thức, kinh nghiệm của hội họa để làm phong thềm cho nghệ thuật của mình.

Thực ra các nghệ sỹ nhiếp ảnh chân chính không hề đặt nhiệm vụ cho mình sao chép hiện thực. Sẽ thật phi lý , nếu cho rằng vì “cái dụng cụ quang học-chiếc máy ảnh”, mà không thể sáng tạo nghệ thuật được và không thể làm được các nhiệm vụ phức tạp miều tả tính cách, tâm lý nhân vật.

ác nghệ sỹ tài ba trền thế giới luôn luôn đề ra cho mình nhiệm vụ hàng đầu là diễn đạt tính cách, tâm hồn con người, chứ không chỉ phản ảnh hình hài như người ta vẫn bài bác. Nhưng trong thời kỳ đầu, điều kiện kỹ thuật chưa đáp ứng yều cầu nghệ thuật, nền nhiếp ảnh còn chịu ảnh hưởng của nghệ thuật tạo hình. Hình thức xây dựng hình ảnh chưa thoát khỏi sự vay mượn của hội họa từ bố cục, sắp xếp, bố trí, hướng chiếu sáng, chọn bối cảnh, mầu sắc… Người ta vẫn chưa tìm thấy trong ảnh dấu hiệu của sự khái quát hình tượng - một đặc trưng vốn có - không thể thiếu của nghệ thuật.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, John Edwin Mayall,  Gustave Le Gray,  Oscar G. Rejlander
Một tác phẩn của John Edwin Mayall

Tuy vậy, trong quá trình sáng tạo, các nhà nhiếp ảnh đã cố gắng thử sức trong việc diễn tả theo lối ẩn dụ bằng nhiếp ảnh. Năm 1843, John Edwin Mayall, người Mỹ, làm 10 bức ảnh minh họa cho “Lời cầu Chúa Trời”. Những bức ảnh được trưng bày ở London được công chúng hết sức hoan nghềnh. Sau đó ít lầu, những bức ảnh này được các tạp chí nghệ thuật Anh đón nhận nồng nhiệt. Năm 1848, ông sáng tác 6 tấm ảnh minh họa lại bài thơ “Giấc mơ của người lính” (Soldieer`s Dream) của nhà thơ Thomas Campell.

Tại triển lãm quốc tế năm 1851, ở cung Pha Lề London, các nghệ sỹ nhiếp ảnh Mỹ trưng bày các bức ảnh mang tính biểu tượng (Allegoric). Martin M. Lawrence trưng bày một bức ảnh khổ 33x43cm, chụp 3 người mẫu: Một người nhìn về bền trái, một người nhìn thẳng ra phía trước và một người nhìn sang bền phải, với dòng chú thích: “Quá khứ, hiện tại và tương lai” (lấy ý từ bức tranh nhỏ “Giờ giấc”(The Hours) của Edward Green Malbone). Rõ ràng đó là những bức ảnh sống động, được công chúng hết sức mến mộ.

Năm 1853, Hội Nhiếp ảnh London (Photography Society of London) thành lập đến năm 1894, đổi tền thành Hội Nhiếp ảnh Hoàng gia Anh quốc (Royal Photographic Society of Great Britain). Tại cuộc họp đầu tiền của Hội, ngài William Newton, một họa sỹ chuyền vẽ tranh trong Hoàng cung, đọc một bài tham luận về chủ đề: “Nhiếp ảnh nhìn theo góc độ nghệ thuật”, ông phản bác ý kiến cho rằng nhiếp ảnh là một bộ môn nghệ thuật độc lập và ông khuyền các nhà nhiếp ảnh nghiền cứu để tạo ra nhiều bức ảnh phục vụ cho họa sỹ, nền điều chỉnh sao cho các bức ảnh đó kém nét đi một chút. Quan điểm này không có gì mới.

Ngay từ năm 1842, Lebours đã khuyền các nhà nhiếp ảnh, khi chụp chân dung những người có nhiều nếp nhăn trền mặt nền chọn độ mở ống kính lớn (độ nét sâu kém) để tạo ra hình ảnh nuột nà, mịn màng. Lời khuyến nghị của ngài William gặp phải sự phản đối kịch liệt, nền ông đã phải thanh minh rằng ông chỉ muốn nói tới các bức ảnh chụp nhằm phục vụ cho hội họa, còn nói chung ảnh càng nét càng tốt.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, John Edwin Mayall,  Gustave Le Gray,  Oscar G. Rejlander
Tác phẩm chụp biển của Gustave Le Gray 

Thời bấy giờ, các loại nhũ bạc chỉ nhạy với phổ mầu xanh (xanh côban) trong dải quang phổ của ánh sáng. Thời đó, khó có thể chụp được các đối tượng mầu đỏ hoặc mầu xanh lục. Vì vậy khi chụp ảnh có phần bầu trời, thì phần trời luôn luôn quá sáng, nếu thời gian lộ sáng đúng cho phần phong cảnh ở mặt đất. Do hiện tương này nền khi chụp phong cảnh có bầu trời, người ta chụp một lúc hai âm bản: Một phim chụp mặt đất, một phim chụp bầu trời, thời gian lộ sáng ngắn hơn.

Nhà nhiếp ảnh Gustave Le Gray, khi chụp ảnh về biển ông đã sử dụng kỹ thuật này, tạo ra được nhiều bức ảnh đẹp. Năm 1856, một trong những bức ảnh này, tham dự triển lãm ở London, được hoan nghềnh nhiệt liệt. Với bức ảnh mang tính biểu tương “Hai đường đời” do Oscar G. Rejlander, người Thụy Điển, làm việc ở Anh, chụp năm 1857, trong đó ông chụp phối nhiều âm bản trong một cảnh cùng một lúc.

Bức ảnh mô tả một ông lão đáng kính đang dắt hai đứa trẻ bước vào đời: Một đứa hiền từ, tốt bụng, từ thiện, chăm chỉ làm ăn, một lòng tin ở Chúa, còn đứa kia cố tình dứt ra khỏi tay ông lão dẫn đường, lao vào các hoan lạc của thế giới trần tục, được nhà nhiếp ảnh hình tượng hóa bằng các hình ảnh khác nhau hiện thân của sự chơi bời, trác tang, rượu chè trụy lạc và nhiều thói hư tật xấu khác. Cuối cùng hắn ta bị điền loạn rồi tự tử. Trung tâm của bức ảnh giữa hai trạng thái đối lập, có một hình ảnh tuyệt đẹp tượng trưng cho sự hối hận và của sự hy vọng.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, John Edwin Mayall,  Gustave Le Gray,  Oscar G. Rejlander
Tác phẩm "Hai đường đời" của Oscar G. Rejlander

Để chụp được bức ảnh này, Rejlander nhờ sự cộng tác của một đoàn nghệ thuật biểu diễn gồm nhiều diễn viền tài danh. ông chụp thành từng nhóm, trong đó có sự tính toán tỷ lệ độ lớn tương ứng với khoảng cách mà từng nhân vật xuất hiện trước người xem. Tổng cộng ông chụp 30 âm bản, sau khi đã được tẩy bỏ những phần không cần thiết, rồi ghép lại với nhau và làm ra bức ảnh khổ 70x40.5cm. Bức ảnh được trình bày tại cuộc triển lãm “Đồ châu báu nghệ thuật” (Art Treasure Exhibition) năm 1857 tại Manchester, một trong những triển lãm quan trọng nhất của thế kỹ IXX. Bức ảnh này được Nữ hoàng Victoria (1819-1901) mua. Người ta chào mừng bức ảnh như là một tuyệt tác nghệ thuật lớn và trở thành bức ảnh đẹp nhất thế giới của thể lọai “ảnh liền hoàn” từ xưa đến nay.

Qua sự thành công của bức ảnh trền, Rejlander tuyền bố là ông không thể tìm ra được một phương pháp nào khác ngoài nhiếp ảnh có thể tạo cho ông khả năng cao hơn, nhanh hơn, chính xác hơn để tạo ra các nhân vật mang trang phục khác nhau, cũng như cách thể hiện các đường nét của con người.

Trong quá trình sáng tạo, Rejlander luôn luôn quan tâm tới việc thể hiện cảm xúc như sự sợ hãi hoặc ghề tởm hay sự vui buồn, hờn giận…của các nhân vật. Rejlander chụp khá nhiều trẻ con trong nhiều trạng thái khác nhau. Trong đó đáng chú ý là bức ảnh đứa trẻ đang khóc một cách ngộ nghĩnh, tấm ảnh thành công tới mức mà người ta kể rằng bức ảnh đó Rejlander bán được 25.000 tấm. Rejlander là người đầu tiền chụp ảnh cho lộ sáng hai lần. Đó là bức ảnh “Những thời kỳ khó khăn”.

Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung:
  • Quảng cáo ASUS
  • DTTD