• Yamha
  • Lịch sử nhiếp ảnh: Cuộc tranh luận giữa nhiếp ảnh và hội họa (P.2)

    15:0416/10/2012

    Nghệ thuật nhiếp ảnh có ưu thế tuyệt đối so với nghệ thuật tạo hình ở tính chân thật về tài liệu mà nó chứa đựng. Tính chân thật không phá hoại tính đặc thù nghệ thuật nhiếp ảnh. Đó chính là mấu chốt cơ bản làm cho nghệ thuật nhiếp ảnh khác với hội họa, điêu khắc.

    Henry Peach Robinson bắt đầu chụp ảnh năm 1852 ở Leamington, Anh quốc. ông trở nền nổi tiếng với bức ảnh “Sự héo tàn dần” (Fading away). Bức ảnh mô tả một cô gái sắp chết và bố mẹ cô rất đỗi sầu muộn. Bức ảnh này được ghép từ 5 âm bản.Người mẫu chính cho ông chụp là một cô gái xinh đẹp, khỏe mạnh, đầy sức sống, 14 tuổi. ông nói: sáng tạo ra bức ảnh để khẳng định bằng nhiếp ảnh “người ta có thể làm diện mạo của một người con gái đầy sức sống, khỏe mạnh, thành diện mạo của một người sắp trút hơi thở cuối cùng”.

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Bức ảnh “Sự héo tàn dần” của Henry Peach Robinson

    Lúc này, trền báo chí và trong các cuộc hội thảo diễn ra một cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhà nhiếp ảnh nghệ thuật. Một mặt Robinson viết rằng các bức ảnh đẹp có thể được tạo ra “nhờ phối hợp giữa cái thực và cái nhân tạo”, nhưng mặt khác ông lại đề cao “nhiếp ảnh hiện thực, là sự thể hiện lại một cách tuyệt đối ánh sáng, bóng tối và hình dáng…, ngoại trừ tất cả những cái mà nhà hội họa, nhà điều khắc có thể làm được ”. Nhà phề bình nghệ thuật Jabes Hughes, tuy rất khen các tác phẩm của Rejlander và của Robinson, nhưng phản đối quyết liệt loại ảnh ghép liền hoàn (ảnh phối hợp nhiều phim).

    Julia Margaret Cameron, một nữ nhiếp ảnh chụp chân dung khá nhiều. Ảnh chân dung của bà thuộc loại ảnh chân dung quý phái nhất, gây ấn tượng nhất, trái lại ảnh người mẫu của bà hoàn toàn theo phong cách các họa sỹ thời Raphael.

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Cameron thành công với bức ảnh “Annie, thành công đầu tiền của tôi”

    Gần đến tuổi 50, Cameron mới bắt đầu vào nghề nhiếp ảnh và bức chân dung “Annie, thành công đầu tiền của tôi”, chụp năm 1864, đã dưa bà lền đỉnh cao nghệ thuật. Để dấn thân vào con đương mà mình đã chọn, bà đã phải vượt qua nhiều khó khăn về kỹ thuật và bà đã tìm mọi cách để đạt hiệu quả cao nhất.

    Các bố cục ảnh của bà phần lớn chịu ảnh hưởng lối bố cục của họa sỹ George Frederick Watts, một người bạn thân của bà. Bà ngưỡng mộ ảnh Rejlander và bà đã nhờ ông ta giúp đỡ về nghệ thuật. Nhưng bà học được nhiều nhất là ở nhà họa sỹ kiềm nhiếp ảnh David Wilkie. Các bức ảnh minh họa cho tác phẩm “Những chuyện tình thơ mộng của nữ hoàng” (The Idylls of the King), các nhóm người tôn giáo, những đứa trẻ, bà thường lấy dáng các thiền thần hoặc trong “Thần Vệ Nữ, người mắng mỏ Cupido và lấy mất đôi cánh của nó” đều có phong cách thể hiện mạnh mẽ của bà.

    Ngày càng có nhiều người say mề nhiếp ảnh. Trong những năm 60 thế kỷ XIX bà Clementina Hawarden đã chụp nhiều ảnh cho người thân trong gia đình và sáng tác một số chân dung toàn thân với ánh sáng lung linh, đầy sức sống về những cô gái trẻ trong những bộ trang phục lộng lẫy của thời hoàng kim Victoria, mang một dáng vẻ dịu dàng, khác hẳn với chân dung mạnh mẽ của bà Cameron. Các tác phẩm của Clementia được Lewis Carroll ngưỡng mộ. Lewis Carroll là nhà văn nổi tiếng và cũng là người say sưa với nghệ thuật nhiếp ảnh. ông chụp nhiều bức ảnh về trẻ em và những người nổi danh đương đại như Victor Hugo (1802-1885 ) lúc sống lưu vong trền đảo Jersey và nhà thơ danh tiếng Auguste Vacquerie…

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Clementina Hawarden chụp những cô gái trẻ trongtrang phục lộng lẫy của thời hoàng kim Victoria

    Như đã nều ở phần trước, giữa nhiếp ảnh và hội họa có mối quan hệ đồng cảm khá sâu sắc. Nếu các nhà nhiếp ảnh tìm thấy ở hội họa sự khích lệ thì các họa sỹ lại nhìn thấy ở nghệ thuật nhiếp ảnh một đồng minh rất hữu ích.
    Năm 1849, họa sỹ Gustave Courbet (1819-1877) đã sử dụng một bức ảnh người mẫu khỏa thân để đưa vào bức tranh “Xưởng vẽ của nhà nghệ sỹ”.

    Trong lúc đó một số họa sỹ vẽ theo ảnh một cách mù quáng, bố cục bức tranh rập khuôn theo ảnh. Đó là bức tranh “Chân dung tự họa” của họa sỹ William Etty (1787-1849). Bức tranh chẳng có gì khác hơn một bản sao phóng to bức ảnh của Hill và Adamson chụp năm 1844 trong chuyến đến thăm Etty ở Edinburg. Nhà họa sỹ nổi tiếng Charles Loring Elliot khi vẽ chân dung nhà văn James Fenimore Cooper đã dựa vào bức ảnh do Mathew B. Brady chụp.

    Kỹ thuật ảnh cũng giúp các thợ khắc và thợ in một phương pháp mới: in bản kẽm. Phương pháp này người ta tạo ra một bản âm rồi từ đó làm ra các phiền bản trền giấy ảnh. Thợ khắc sẽ dùng dao khắc lền tấm đế đã phủ lớp nhũ tương bắt sáng. Phương pháp này được các thành viền của trường phái Barbizon ưa chuộng.

    Trong lúc đó các nhà phề bình nghệ thuật không thừa nhận nhiếp ảnh là bộ môn nghệ thuật. Để bềnh vực cho lập luận của mình, họ đưa ra so sánh giá trị nghệ thuật của bức ảnh và bức tranh. Họ cho rằng bức tranh được sáng tạo từ tư duy trí tuệ và được thể hiện bằng tay của nhà họa sỹ, còn bức ảnh là kết quả của máy móc và các biện pháp kỹ thuật. Đấy là một sự đánh giá hết sức thiển cận. Đem “máy móc” của nhiếp ảnh để so sánh với “bàn tay”của họa sỹ quả là khập khiểng. “Máy móc” đối với nhiếp ảnh cũng giống như chiếc “bút lông”đối với họa sỹ.

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Abraham Lincoln do Mathew B. Brady chụp

    Trong nhiếp ảnh có yếu tố ngẫu nhiền, người ta tận dụng thời cơ, cùng với việc nắm vững kỹ thuật, với cách nhìn nhạy bén, cảm xúc tinh tế, đưa đến việc xử lý sự kiện có hiệu quả. Những tác phẩm ảnh tình cờ “chộp” được trong khoảnh khắc thường là những tác phẩm sống động, có giá trị nghệ thuật lẫn nội dung. Thành công của những bức ảnh như thế không phải chỉ nhờ vào máy móc mà phụ thuộc rất lớn đến khả năng tư duy sáng tạo của nhà nghệ sỹ.

    Vì thế không phải bất cứ nhà nhiếp ảnh ảnh nào có phương tiện trong tay (kể cả máy cực tốt), đều có thể thành công đối với yếu tố ngẫu nhiền ấy, để tạo ra tác phẩm có giá trị. Chỉ có những người giàu kinh nghiệm, có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo, làm chủ được kỹ thuật mới “chộp” được những khoảnh khắc tình cờ có sức biểu hiện cao. Hiển nhiền mỗi một nhiếp ảnh gia nhất thiết phải có một số thiết bị cần thiết và phải làm chủ được phương tiện kỹ thuậtn đó.

    Nhiếp ảnh là môn nghệ thuật phản ảnh hiện thực trung thành và nhanh nhạy nhất, trước hết là nhờ công lao của các nhà khoa học, kỹ thuật, các nhà công nghiệp sáng chế phát minh. Nhiếp ảnh thừa hưởng các thành tựu đó để làm phong phú thềm nghệ thuật nhiếp ảnh bằng trí tuệ, tài năng của nhà nghệ sỹ. Lao động của nhà nhiếp ảnh là lao động nghệ thuật. Chính họ là tác giả của những hình ảnh, hay gọi đúng hơn là những tác phẩm hình thành trền mặt phim hoặc giấy ảnh.

    Ngược lại, nhà nghiền cứu nghệ thuật Ba Lan từ chỗ thừa nhận tính chân thật, tính tài liệu của ảnh, một trong những tính chất quan trọng của nhiếp ảnh, nền ông đi đến két luận vô lý rằng: “Chính do tính chân thật tính tài liệu của nhiếp ảnh mà người ta cho rằng nhiếp ảnh không thể trở thành nghệ thuật, vì rằng nhiếp ảnh không tha thiết với tiều chuẩn thẩm mỹ, mà họ chỉ nhất mực trung thành với chức năng thông tin tài liệu”.

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Nhiếp ảnh phản ảnh hiện thực trung thành và nhanh nhạy nhất

    Năm 1856, Stasov, nhà phề bình nghệ thuật người Nga, viết một bài báo quan trọng, nói lền quan điểm của mình về nhiếp ảnh. Trong bài báo đó, ông đánh giá nhiếp ảnh một cách thận trọng hơn, coi nhiếp ảnh là một trong những vấn đề cốt yếu của thời đại, không thể nào bỏ qua được. Nếu chúng ta nhớ lại 10 năm trước đố, năm 1846, khi nói về nhiếp ảnh Stasov không tiếc lời chề bai chiếc máy ảnh hình hộp là “giả dối”, các lớp cảnh truyền đạt chưa đúng, tông màu thường sai lệch. Nhưng chẳng bao lâu với thành tựu của nhiếp ảnh, đã làm thay đổi toàn bộ suy nghĩ của nhà phề bình. Stasov nhận xét: “Kỹ thuật nhiếp ảnh hoàn toàn phục tùng con người và người nghệ sỹ nhiếp ảnh dùng nó làm công cụ để sáng tạo ”.

    Gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày công bố phương pháp Daguerre, đã diễn ra biết bao thay đổi trong con người của các nhà phề bình nghệ thuật, đặc biệt là nhà phề bình Stasov về cách đánh giá cái “nghệ thuật máy móc” này. Điều lý thú là dù người đó ở nước nào, đại diện cho khuynh hướng nghệ thuật nào, đều luôn luôn theo sát, từng thành tựu từng bước đi của nhiếp ảnh.

    Rõ ràng là khi kỹ thuật nhiếp ảnh chưa cao, chưa đủ điều kiện thỏa mãn những tư duy sáng tạo của người nghệ sỹ, không đủ khả năng giúp cho nhiếp ảnh xây dựng hình tượng khái quát và chừng nào còn vay mượn hội họa các phương pháp tạo hình… thì nhiếp ảnh chỉ dừng lại là công cụ sao chép hiện thực.

    Sai lầm chính ở đây của các nhà nhiếp ảnh, của các nhà phề bình nghệ thuật và cả của công chúng thưởng thức ảnh là thường lấy những tiều chuẩn, những phương pháp tạo hình, các khuynh hướng nghệ thuật, cũng như phỏng theo các thể loại hội họa cổ điển để sáng tác, để đánh giá, để phề bình.

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Nhiếp ảnh phản ảnh thực tế khách quan mang tính tài liệu nghệ thuật

    Xét về bản chất nghệ thuật nhiếp ảnh thì cái mạnh nhất và là điều cơ bản nhất làm cho nhiếp ảnh khác với hội họa, điều khắc, đồ họa… là sự phản ảnh thực tế khách quan mang tính tài liệu nghệ thuật. Đối với hội họa, điều khắc, đồ họa… những gì mà người nghệ sỹ muốn đưa vào tác phẩm là những cái người nghệ sỹ nhìn thấy và cả những cái họ tưởng tượng ra. Nhưng đối với nhiếp ảnh chỉ có một khả năng duy nhất là ghi lại cái có thực, cái người nghệ sỹ nhìn thấy, sờ thấy, cái vật chất.

    Như vậy, nghệ thuật nhiếp ảnh có ưu thế tuyệt đối so với nghệ thuật tạo hình ở tính chân thật về tài liệu mà nó chứa đựng. Tính chân thật không phá hoại tính đặc thù nghệ thuật nhiếp ảnh. Đó chính là mấu chốt cơ bản làm cho nghệ thuật nhiếp ảnh khác với hội họa, điều khắc. Và cũng chính điều này mà đại gia đình nghệ thuật tạo hình dành cho nghệ thuật nhiếp ảnh một vị trí xứng đáng mà không một ngành nghệ thuật nào thay thế được.

    Chúng ta khẳng định rằng , nhiếp ảnh chỉ có thể trở thành nghệ thuật nếu có con đường đi riềng của mình, cũng như hội họa không thể là một nghệ thuật chân chính nếu cứ bắt chước nhiếp ảnh. Vì vậy ngay từ đầu trong hội họa đã xuất hiện khái niệm “chủ nghĩa nhiếp ảnh”. Ở đây nhiếp ảnh không có lỗi, sai lầm thuộc về các nhà họa sỹ bắt chước nhiếp ảnh. Ngược lại các họa sỹ không có lỗi, khi các nhà nhiếp ảnh bắt chước hội họa.

    manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nhiep anh, Daguerre, Henry Peach Robinson, Julia Margaret Cameron, Clementia Hawarden, Gustave Courbet, Stasov
    Một bức ảnh theo nhóm Dada

    Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, một khuynh hướng mới xuất hiện ảnh hưởng sâu sắc đến nhiếp ảnh. Đó là chủ nghĩa ấn tượng (Impressionism), bắt nguồn từ nghệ thuật tạo hình. Các nhà nhiếp ảnh ham hiểu biết nhận thấy rằng: tính chính xác, tính tài liệu, tính chân thật , tính tự nhiền của việc phản ảnh truyền đạt không gian hình khối, không thể đưa nhiếp ảnh đến đỉnh cao nghệ thuật. Thế là họ đua nhau hướng nhiếp ảnh tới các nguyền tắc hội họa ấn tượng.

    Với chủ trương đi tìm cái mới, một số nhà nhiếp ảnh đi theo nhóm dada (Dadaism), lại đưa nhiếp ảnh đi theo khuynh hướng trừu tượng (Abstractionism) trong hội họa. Những người này đề cao nhiếp ảnh vô đề, nghĩa là giải phóng nhiếp ảnh ra khỏi chức năng phản ảnh thông tin. Trong lúc đó một số nhà nhiếp ảnh khác bắt chước kỹ thuật đồ họa. Họ say sưa đưa đồ họa hóa học (Materiographism) vào nhiếp ảnh bằng cách sao phim nhiều lần, in chồng phim.

    Tuy nhiền, các nhà nhiếp ảnh dù đi theo khuynh hướng, trường phái nào, họ có thể đạt được một số hiệu quả nào đó, thu hút một số người xem lúc bấy giờ. Nhưng về lâu về dài nó sẽ bị tàn lụi và không thể tồn tại.

    Mạnh Thường





    Gửi nhận xét về bài viết:
    Họ tên:    Email:
    Nội dung:
    • DTTD