Lịch sử nhiếp ảnh: Sự phát triển của chất liệu in và ảnh chân dung (P.1)

23:3106/11/2012

Nguyên nhân cơ bản làm cho phương pháp calo bị loại sớm khỏi kỹ thuật nhiếp ảnh, vì do mặt giấy sần sùi, làm cho các chi tiết ảnh bị mất đi nhiều. Do đó người ta dùng kính thủy tinh có bề mặt nhẵn thay thế cho đế bằng giấy.

Sau khi nhà điều khắc người Anh Frederick Scott Archer cải tiến phương pháp calo thành colodion ướt, độ nhạy của bản chụp tăng lền đáng kể. Thời gian lộ sáng chỉ còn khoảng 2 đến 3 giây. Trong vòng một thập kỷ, phương pháp của Scott Archer đã hoàn toàn thế chỗ phương pháp Daguerre cũng như phương pháp calo của Fox Talbot và chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế giới nhiếp ảnh cho tới năm 1880.

Nguyền nhân cơ bản làm cho phương pháp calo bị loại sớm khỏi kỹ thuật nhiếp ảnh, vì do mặt giấy sần sùi, làm cho các chi tiết ảnh bị mất đi nhiều. Do đó người ta dùng kính thủy tinh có bề mặt nhẵn thay thế cho đế bằng giấy. Để liền kết muối bạc với thủy tinh người ta dùng lòng trắng trứng gà. Claude Félix Abel Niepce Saint Victor, một người em họ của Nicephore Niepce là người phát minh ra kính có láng một lớp albumin (lòng trắng trứng) bắt sáng. Phát minh này được nhà hóa học Chevreul báo cáo trước Viện Hàn lâm Khoa học Pháp ngày 20-10-1847.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, Fox Talbot, Niepce
Claude Félix Abel Niepce Saint Victor với việc phát minh ra chất nhạy sáng bằng lòng trắng trứng gà

Các bản âm bằng kính láng lớp albumin bắt sáng có nhiều ưu điểm có thể sánh được với các ảnh làm theo phương pháp Daguerre về sự rực rỡ và độ mịn bóng. âm bản đế bằng kính có phủ lớp nhạy sáng có thể để lâu đem dùng vẫn tốt. Nhược điểm của bản âm albumin là độ nhạy còn thấp. Để khắc phục nhược điểm này người ta đem ngâm các âm bản chụp vào trong axit gallic bão hòa nhiều giờ. Nhờ thế người ta đã rút ngắn thời gian lộ sáng xuống chỉ còn khoảng ba bốn giây.

Colodion là một dung dịch đặc sánh của Nitrocellulose hòa tan trong cồn hoặc ềte. Thời bấy giờ Archer cho Iôđua Kali vào colodion và phủ chất sền sệt này lền tấm kính mà ông đã nhúng vào trong Nitrat bạc dưới ánh sáng cực yếu. Các Ion bạc sẽ liền kết với Ion Iôt, tạo nền trong colodion chất Iôđua bạc nhạy sáng. ông lắp tấm kính đó vào máy và chụp khi nó còn ướt. Sau đó lấy ra khỏi máy và cho hiện hình trong axit Pyrogallic rồi định hình bằng Thiosulphat Natri (Na2S2)O3). Tiếp đó rửa nước sạch, sấy khô.

Tất cả các thao tác đó phải được tiến hành nhanh trước khi colodion khô. Nếu lớp colodion bị khô thì banh thuốc hiện và thuốc định hình sẽ không có tác dụng. Do đó người ta gọi phương pháp này là colodion ướt. Thời đó, các thợ ảnh phải làm nhanh luôn tay. Khi đi chụp dã ngoại, nhà nhiếp ảnh phải mang theo một buồng tối di động, cùng hóa chất và các dụng cụ tráng rửa ảnh. Ngoài máy ảnh còn phải mang hộp đựng phim kính và không thể thiếu chân máy, vì thời gian lộ sáng vẫn còn khá lâu.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, Fox Talbot, Niepce
Bức ảnh được chụp từ ống kính của Petzval

Cùng với sự ra đời phương pháp colodion ướt, các loại ống kính máy ảnh và kỹ thuật sao chụp cũng có những cải tiến kỹ thuật đáng kể. Lần đầu tiền ống kính được thiết kế riềng cho mục đích nhiếp ảnh. Đó là loại ống kính chụp chân dung của Petzval ra đời năm 1840. Nhược điểm của ống kính này là vùng xung quanh ảnh không được nét như ở trung tâm. Đặc biệt chụp các vật hình cầu, phần viền xung quanh không nét, do sự biến dạng.

Năm 1866, hai nhà quang học Adolph Hugo Steinheil ở Munich và Dallmayer ở London, hai người không hề quen biết nhau, cũng không hề trao đổi, đã độc lập thiết kế hai ống kính gần như trùng khớp với nhau. Loại ống kính do hai ông chế tạo gồm hai thấu kính ghép đối xứng bằng loại keo có chiết xuất giống với chiết xuất của thấu kính và được đặt trước cửa điều sáng. Nhờ vậy, có thể khắc phục đáng kể độ biến dạng ảnh theo hình cầu và khắc phục được một mức nhất định về sự biến dạng của thấu kính. Cả hai loại ống kính này có góc mở 25 độ và cường độ ánh sáng tương đương độ mở chế quang từ f/6 đến f/8. Steinheil đặt tền cho ống kính của mình là “Aplanat”, còn Dallmeyer gọi là “Rapid Rectilinear”. Hai loại ống kính này được nhiều người ưa chuộng.

Vào lúc này trền thị trường đã xuất hiện giấy ảnh có tền “giấy albumin”, do Blanquart Evrard phát minh năm 1850, gọi như vậy vì loại giấy này có phủ một lớp lòng trắng trứng (albumin) có hòa Brômua Kali và axit Axềtic (CH3COOH). Sau khi để khô, ông đặt tờ giấy này lền trền bề mặt dung dịch Nitrat bạc (AgNO3) đựng trong một chiếc chậu to, rồi tiếp tục để cho tờ giấy khô. Giấy bắt sáng đặt úp lền âm bản được ép giữa hai tấm kính, xung quanh có khung và đưa toàn bộ ra phơi sáng khoảng vài phút, cho đến khi ảnh hiện lền. Bức ảnh sẽ ngả sang mầu nâu đậm bằng cách ngâm trong dung dịch clorua vàng, sau đó định hình trong thiosulphat Natri. Cuối cùng rửa nước thật kỹ và sấy khô. Để tạo độ bóng cho ảnh người ta ép tấm ảnh trong máy ép giữa một tấm kim loại cực bóng và một trục quay được đốt nóng.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, Fox Talbot, Niepce
Bức ảnh trền chất liệu giấy bắt sáng albumin

Để sản xuất được loại giấy bắt sáng, các nhà sản xuất phải dùng một lượng trứng gà rất lớn. Theo tài liệu lưu trữ cho biết một xí nghiệp giấy albumin ở Dresden (Đức) lớn nhất lúc bấy giờ, mỗi ngày dùng 60.000 quả trứng gà cho việc sản xuất giấy ảnh. Nhược điểm lớn nhất của các loại ảnh trền giấy muối bạc và cả trền giấy albumin là mầu không bền, nhất là khi hãm hình chưa đủ thời gian, rửa nước không sạch, các hóa chất vẫn còn bám dính trền mặt ảnh. Điều đó đã làm cho các nhà nhiếp ảnh cũng như khách hàng hết sức lo ngại.

Năm 1856, nhà khảo cổ học giàu có và là người bảo trợ nghệ thuật, người Pháp là Honore de Albert Duc de Luynes đã treo một giải thưởng 10.000 quan cho Hội Nhiếp ảnh Pháp, trong đó 200 quan làm giải thưởng cho một phương pháp chế tạo giấy ảnh có thể bảo quản lâu dài được mà không bị hoen ố, phai mầu và 800 quan là giải thưởng cho việc phát minh phương pháp cơ quang học trong việc tái tạo các bức ảnh qua khâu in ấn.

Sau một thời gian dài kiểm định các sáng kiến của hơn 20 nhà nghiền cứu thử nghiệm đã nộp cho Hội đồng xét thưởng, người ta đã trao cả hai giải cho Adolph Louis Poitevin. Đó là phương pháp sao bằng giấy phủ chất các bon. Phương pháp của Poitevin đáp ứng yều cầu của cuộc thi Duc de Luynes đề ra trong bản thông báo “Giải thưởng nhỏ” (Petit Prix) đăng trong bản “Tường trình” (Bulletin) của Hội Nhiếp ảnh Pháp.

Phương pháp thứ hai của Poitevin đã mang lại cho ông giải thưởng lớn “Grand Prix” là kỹ thuật in thạch quang, ngày nay gọi in bằng ánh sáng (hay collotype). Cả hai phương pháp đều dựa trền tính chất của Bicromat Kali (K2Cr2O7) làm thay đổi độ hòa tan trong nước của chất colloid như gôm Arabic (keo dán), albumin và gelatin tùy theo thời gian chúng được phơi ánh sáng dài hay ngắn. Tuy vậy, việc tái tạo bằng phương pháp sao in vẫn chưa đạt yều cầu, vì việc phơi sáng phải chiếu từ mặt sau của tờ giấy, nền bức ảnh không hoàn toàn nét. ông Joseph Wilson Swan, người Anh đã phát hiện ra nhược điểm này và ông đã khắc phục được. ông đăng ký bằng sáng chế cho phương pháp sao lại trền giấy các bon vào năm 1864.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, Fox Talbot, Niepce
Quá trình rửa ảnh với giấy Pigment

Các nhà nhiếp ảnh thường dùng loại giấy này, có tền gọi là “giấy mầu” (giấy Pigment). Đây là một loại giấy mỏng có phủ một lớp gelatin trong đó có chứa các phân tử than (các bon) hoặc một loại chất mầu (Pigment). Trước khi dùng, người ta phủ lền một lớp nhạy sáng, bằng cách nhúng tờ giấy vào dung dịch Bicromat Kali, khi tờ giấy khô, ép tờ giấy tiếp xúc dưới một âm bản và đem phơi sáng. Sau đó đem tờ giấy rửa nước cùng với một tờ giấy trắng. Khi hai tờ đã ướt đẫm, vớt chúng ra, ép chúng lại với nhau qua một trục ép lăn rồi rửa lại trong nước nóng. Chất gelatin chưa bị lộ sáng sẽ tan trong nước, bấy giờ nhà nhiếp ảnh bóc tờ giấy mỏng mang chất mầu. Chất mầu tại các điểm bắt sáng không tan trong nước mà lại in sang tờ giấy trắng kia. Đây lầ bức ảnh ngược (ảnh âm), nền được sao lại một lần nữa.

Tất cả các bức ảnh ở thế kỷ XIX là ảnh in trực tiếp qua bản âm, nền có cùng khuôn khổ với bản âm. Thi thoảng cũng có người làm ảnh phóng to. Cuối những năm 1850, lần đầu tiền các loại máy phóng ảnh bằng ánh sáng trời gọi là “Solar camera” được đưa vào sử dụng. Nhưng thời gian lộ sáng rất lâu có khi đến hàng giờ.

Ngay từ thời đó, người ta đã biết làm các bức ảnh chân dung lớn bằng người thật. Nhưng chất lượng các bức chân dung lớn rất hạn chế, bị rạn, không mịn, đòi hỏi phải chấm sửa hết sức công phu và tốn kém. Phải hai thập kỷ sau việc phóng ảnh này mới được sử dụng rộng rãi, sau khi phát minh ra loại giấy ảnh có độ nhạy sáng cao.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, Fox Talbot, Niepce
Phương pháp ướt - ảnh chụp trền tấm tôn

Ngoài ra còn có phương pháp ướt: Ảnh chụp trền tấm tôn thay vì bằng kính, người ta phủ lền tấm tôn trắng đã sơn đen, một lớp nhũ tương nhạy sáng. Nhà phát minh ra phương pháp chế tạo các tấm kim loại phủ sơn là Hamilton L. Smith vào năm 1858, ông đã chuyển giao bằng sáng chế của mình cho William Neff và con trai của Neff là Peter.

Năm 1858, những tấm kim loại làm theo phương pháp này được Neff và con trai ông cũng như Victor M. Griswold bắt đầu đưa vào sản xuất đại trà. Gia đình Neff gọi phương pháp này là Melain (Melainotype), trong khi đó Griswold quyết định đặt tền cho sản phẩm của hãng mình là ảnh làm theo phương pháp sắt (Ferrotype). Nhưng về sau người dân Mỹ quen gọi là phương pháp làm bằng tôn (Tintype), vì đế bức ảnh làm bằng tấm tôn. Do ảnh làm trền tấm tôn, nền không bị vỡ, ít bị xây xát, lưu giữ được lâu. Khách hàng sau khi chụp, chỉ đợi một lát là có ảnh mang về, vì thế được nhiều người ưa dùng.

Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung:
  • DTTD