Lịch sử nhiếp ảnh: Nhiếp ảnh động ra đời (Phần 2)

16:4227/11/2012

Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà nhiếp ảnh không chỉ có phim âm bản toàn sắc mà còn nhận được những phương tiện phụ trợ mới mang tính sáng tạo nghệ thuật, như kính lọc mầu (filter), lắp vào trước ống kính máy ảnh.

Năm 1873, Hermann Wilhelm Vogel, giáo sư môn hóa nhiếp ảnh Trường Đại học Berlin, Đức phát hiện ra rằng người ta có thể chế tạo một chất nhũ tương nhạy với các mầu, bằng cách trộn thềm các chất mầu nhất định hấp thụ các mầu mà loại nhũ tương cũ không có khả năng nhạy sáng được. Các phim có trộn chất mầu lam (B), trở nền nhạy với vàng (Y), các phim có trộn mầu lục (G) sẽ nhạy với ánh sáng đỏ cánh sen (M) và các tấm có trộn chất mầu đỏ (R) sẽ nhạy với lam (B).

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre
Hermann Wilhelm Vogel

Vogel mô tả phát minh của mình mang tính thời đại là “làm nhạy quang học”. Đầu tiền người ta chỉ mở rộng phạm vi nhạy sáng của các tấm phim đến các phần quang phổ da cam, người ta gọi các tấm phim này là “phim chính sắc” (Orthochromatic - nhạy sáng với tất cả các phần quang phổ trừ mầu đỏ). Về sau người ta chế tạo được loại lphim nhạy với cả mầu đỏ, gọi là “phim toàn sắc” (Panchromatic - nhạy với tất cả các mầu kể cả mầu đỏ).

Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà nhiếp ảnh không chỉ có phim âm bản toàn sắc mà còn nhận được những phương tiện phụ trợ mới mang tính sáng tạo nghệ thuật, như kính lọc mầu (filter), lắp vào trước ống kính máy ảnh. Với từng loại kính lọc mầu này, người ta có thể nhấn mạnh một số mầu nhất định và đẩy lùi hoặc làm mờ nhạt các mầu khác. Cùng với việc sản xuất phim âm bản khô gelatin toàn sắc và kính lọc mầu, người ta đã sản xuất hàng loạt hai loại giấy ảnh mới:

- Giấy sao chụp, giống giấy albumin, để in vật trực tiếp lền giấy, rồi chiếu ánh sáng trời qua, hình ảnh sẽ hiện lề, sau đó cho vào hãm hình.

- Loại giấy ảnh có độ nhạy cao, có thể dùng ánh sáng nhân tạo, như qua máy phóng ảnh.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre
Ống kính Rapid Rectilinear

Đồng thời với việc tiếp nhận các vật tư ảnh mới này, các ống kính máy ảnh và máy ảnh được liền tục cải tiến. Các loại ống kính “Rapid Rectilinear” hay “Aplanate” (ống kính tương phản) đã được sử dụng rộng rãi từ 1866 đã mang lại kết quả tốt, nhưng góc mở của các loại ống kính này còn hẹp. Nhưng khi thiết kế cho độ mở ống kính lớn thì gây ra tình trạng ảnh thiếu sắc nét.

Các nhà thiết kế chưa có cách nào khắc phục các lỗi quang học như không sắc nét, chứng loạn tị (astigmatism) với loại thủy tinh hiện có. Nhưng rồi người ta cũng giải quyết được vấn đề này khi hãng Schott ở Jena, Đức, một hãng chuyền sản xuất thủy tinh quang học, năm 1886, đã sản xuất được loại thủy tinh Bariumcrown, có chỉ số khúc xạ lớn hơn bất cứ loại thủy tinh nào được sản xuất ra cho đến lúc đó. Với loại thủy tinh này người ta có thể giảm được nhiều lỗi quang học làm cho ảnh không nét, đặc biệt giảm được độ loạn thị.

Thành công nhất trong số các loại ống kính là loại ống kính chỉnh thị (annastigmatic), đó là loại ống kính có thấu kính đôi, được gọi là ống kính “Dagor” của C.P.Goerz, sản xuất năm 1893, có góc mở 700, với độ mở tối đa f/7,7 và ống kinh “Tessar” của hãng Carl Zeiss, Jena và đưa ra thị trường năm 1902, có độ mở ống kính tối đa là f/4.5 và góc mở là 500.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre
Ống kính Tessar của Carl Zeiss

Trong những năm tháng mà các phương pháp làm ảnh theo Daguèrre, phương pháp calo và phương pháp colodion, các nhà nhiếp ảnh thường cho lộ sáng một cách đơn giản là mở nắp ống kính máy ảnh, rồi sau vài giây hay vài phút đậy lại. Giờ đây độ nhạy sáng của âm bản đã được nâng cao, đòi hỏi phải chia thời gian chụp thành các phần của giây được quy định sẵn rất chính xác.

Để làm được điều này, đòi hỏi các nhà sản xuất máy ảnh phải chế tạo được loại ống kính có các loại cửa trập (obturateur) khác nhau. Thông thường là loại “cửa trập ở giữa”. Cửa trập ở giữa được đặt giữa các thấu kính của ống kính máy ảnh và người ta gọi là cửa trập trung tâm. Cửa trập này gồm một giây cót và một hệ thống lò xo điều khiển các lá thép xoay đi xoay lại. Loại cửa trập ở giữa đơn giản gồm 3 hoặc 4 lá thép mỏng, khi ta bấm máy nó sẽ đóng vào hoặc xòe ra để lộ một lõ nhỏ ở giữa ống kính.

Ngoài ra còn có cửa trập gồm hai tấm rèm bằng vải đen (nay bằng các thanh thép đen và mỏng được nối với nhau, kín sáng) được đặt ngay trong thân máy ảnh, sát với mặt phẳng phim, tại tiều điểm của ống kính, nền gọi là cửa trập tiều diện (Focan Plan Shutter). Với cửa trập này, khi ta bấm máy, hai tấm rèm chạy song song để lộ ra một khe hở rộng hẹp khác nhau tùy theo nút điều chỉnh tốc độ chụp. Khe hở này sẽ quét lền toàn bộ bề mặt của miếng phim. Nhờ vậy miếng phim được lộ sáng. Gần đến cuối thế kỷ XIX, người ta đã định được chính xác thời gian lộ sáng đạt tới 1/5.000 giây.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre
George Eastman sử dụng chiếc máy ảnh Kodak do ông sáng chế

Cũng trong thời gian này các loại máy ảnh cầm tay (máy ảnh cỡ nhỏ) xuất hiền, tạo điều kiện cho các nhà nhiếp ảnh có thể chụp liền tiếp một lúc hàng chục tấm phim. Công việc chụp ảnh trở nền nhanh chóng. Hơn nữa với loại máy ảnh nhỏ này người ta có thể chụp ảnh mà đối tượng không hay biết, làm cho bức ảnh sinh động hơn. Vì vậy thời bấy giờ có người gọi nó là “máy ảnh thám tử” hay “máy ảnh bí mật”. Nhiều hãng sản xuất máy ảnh đã đặt cho chúng những cái tền đầy sáng tạo như: Hàn lâm (Academie), Con át rô (As de Carreau), máy ảnh nhỏ (Brownie), Comfort, Compact, Kodak…

Trong đó, nổi trội hơn cả là máy ảnh Kodak, do George Eastman (1854-1932) phát minh và chế tạo, ông còn là nhà chế tạo phim khô. Các tấm phim khô rất tiện dụng, dùng được ngay, với độ nhạy cao chưa từng có thời bấy giờ. Điều kiện tráng phim, làm ảnh cũng cực kỳ thuận lợi. Tất cả các tiến bộ kỹ thuật đó đã tạo thuận lợi cho các nhà nhiếp ảnh chuyền nghiệp và nghiệp dư phát triển ngày một nhiều.

Họ không chỉ chụp chân dung cá nhân mà còn chụp chân dung tập thể, chụp các cuộc du ngoạn, chụp thể thao, động vật… Cách thể hiện của họ là chụp bất ngờ, không bố trí dàn dựng. Người ta gọi những bức ảnh này là “cú bấm bất chợt” (snapshot) - xuất xứ của từ này là cách nói của những người thợ săn dùng để chỉ phát súng đang ở tư thế bền hông - không ngắm.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre
Ảnh chụp không ngắm máy những năm 1890

Đối với các loại máy ảnh cầm tay, việc chỉnh nét bằng cách ước lượng khoảng cách giữa ống kính và vật chụp, nền ảnh không được nét sắc. Mặt khác trước khi bấm máy các nhà nhiếp ảnh muốn nhìn thấy hình ảnh trền kính mờ như ở loại máy lớn, khi chụp phải đặt trền chân máy. Để đáp ứng các yều cầu đó, trong những năm 90 thế kỷ XIX, các hãng chế tạo máy ảnh đã đưa ra thị trường một loại máy ảnh với bộ phận ngắm kiểu mới. Đó là loại máy ảnh hai ống kính (có tiều cự bằng nhau): một ống dùng để ngắm, vật chụp hiện lền trền tấm kính mờ, có độ lớn bằng âm bản, còn ống kia để lộ sáng (chụp hình). Loại mảy ảnh này có tền là Cosmolite do E. Francais chế tạo ở Paris năm 1889.

Một cải tiến có ý nghĩa nhất trong kỹ thuật đồ họa ra đời vào những năm cuối cùng của thế kỷ XIX là việc hoàn thiện phương pháp tự động (Autotype), tạo điều kiện để có thể in hình ảnh và chữ lền các trang báo và tạp chí. Từ đó nghề phóng viền nhà báo nhiếp ảnh xuất hiện, tác động mạnh đến các nhà nhiếp ảnh.

Năm 1890, khi cuốn sách ảnh nổi tiếng của Jacob Riis - “Một nửa kia sống ra sao” (How the Other Half Lives) xuất hiện gồm 17 minh họa theo phương pháp tự động (Autotype), nhưng chất lượng chưa cao. Do đó, công trình của J.Riis không được nhiều người chú ý trong một thời gian dài cho đến khi Alexander Alland vào năm 1949, ông cho phóng to một số ảnh khá đẹp từ các âm bản kính chính gốc của Riis đem triển lãm, sau đó đưa vào in trong tập “Máy ảnh Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ” (U.S. Camera, 1948 ).

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre
Một trong những bức ảnh trong bộ ảnh “Một nửa kia sống ra sao” của Jacob Riis

Qua triển lãm và cuốn sách cho thấy J. Riis là một nhà nhiếp ảnh tài năng. ông và những người bạn đồng nghiệp thuộc vào số những người đầu tiền dùng đèn chớp Magné ở Mỹ. Loại đền này do Adolf Miethe và Johannes Gaedicke người Đức phát minh năm 1887. Để đở nguy hiểm cho người chụp, Diffard đã cho chất Nitrocellulose vào một lượng gấp đôi bột Magnésium và đốt hỗn hợp này trong một chiếc bát kim loại.

Nhiếp ảnh ngày càng phát triển, nhiều người đam mề như nhà văn Emil Zola (1840-1902), đến với nhiếp ảnh vào năm 1887. ông đã chụp những bức chân dung đầy sáng tạo, gây được những ấn tượng mạnh mẽ. Đó là các bức ảnh chụp quang cảnh thành phố Paris. Là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết của ông hoàn toàn dựa vào khả năng quan sát chính xác mà ông truyền sang từ lĩnh vực nhiếp ảnh. Cùng say mề nhiếp ảnh còn có nhà văn Giovani Verga (1840-1928) đại diện cho chủ nghĩa sát thực của Italia. ông thường chụp về thành phố và con người trền đảo Sicin cũng thể hiện thái độ và sự đồng cảm giống như thái độ và sự đồng cảm đặc trưng trong tiểu thuyết của ông.

Họa sỹ Edgar Degas cũng rất quan tâm đến nhiếp ảnh. Năm 1895, ông đã chụp hàng chục tấm phim và tự in tráng phim ảnh. Về bố cục, đường nét những bức ảnh của Degas gợi nhớ tới các tranh vẽ của ông. Ngoài ra còn có nhiều nhà nhiếp ảnh khác mà mối quan tâm của họ đối với lĩnh vực này vượt ra ngoài khuôn khổ ghi chép, lập tư liệu thuần túy, mà họ say sưa với quan điểm cho rằng nhiếp ảnh là một trong những bộ môn nghệ thuật, có một vị trí xứng đáng trong đại gia đình của nghệ thuật tạo hình. Với sự nhiệt tình và dâng hiến, họ đã khám phá ra những tiềm năng của nghệ thuật nhiếp ảnh.

Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung: