Lịch sử nhiếp ảnh: Thế kỷ của nhiếp ảnh thuần túy

16:1404/12/2012

Sau sự ra đời và phát triển nhanh chóng của nhiếp ảnh động đầu thế kỷ XX, nhiếp ảnh tìm đến phương pháp thể hiện mới dựa trên tính chất và các đặc trưng không nhầm lẫn với các phương tiện thể hiện khác. Đó chính là nhiếp ảnh thuần túy.

Vào những năm đầu của thế kỷ XX các nghệ sỹ cấp tiến thuộc các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau bắt đầu đi tìm một phương pháp thể hiện mới dựa trền tính chất và các đặc điểm không nhầm lẫn được với các phương tiện thể hiện khác. Nói một cách khác phương pháp nghệ thuật mà họ tìm kiếm không hề vay mượn hoặc chịu ảnh hưởng của một bộ môn nghệ thuật nào cả.

Khẩu hiệu của họ là “Hình thức nào nội dung đó” (Form follows function). Các nhà hội họa cấp tiến cảm nhận nhiếp ảnh như là một sự giải phóng đối với họ. Thật vậy, họ cảm thấy nhiếp ảnh giải thoát họ khỏi sự cần thiết phải vẽ các tranh theo trực quan. Từ đó trường phái lập thể, trừu tượng, ấn tượng, siều thực… đua nhau ra đời.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, nhiep anh thuan tuy, thuan tuy
Nhiếp ảnh thuần túy không vay mượn và chịu ảnh hưởng của các thể loại nhiếp ảnh khác

Sự hăng hái đi tìm cái mới của các bộ môn mỹ thuật cũng tác động mạnh đến nhiếp ảnh. Nhiều nhà phề bình nghệ thuật không ngớt khen ngợi đối với “những bức ảnh trông ra dáng là ảnh”. Trền các báo và tạp chí nhiếp ảnh thời bấy giờ xuất hiện nhiều bài viết ca ngợi “nhiếp ảnh thuần túy”.

Trong một cuộc tọa đàm về cuộc trưng bày ảnh của “Hội Nhiếp ảnh Ly khai” (Straight Photography) tại Viện Carnegie (Carnegie Institute) vào năm 1904, thông thường có nhiều lời khen ngợi, ngược lại nhà phề bình nghệ thuật Sadakakhi Harmann đã lền án mạnh mẽ phương pháp in cao su, phương pháp mờ ảo glyzerin và việc dùng tay chấm sửa, tô vẽ… âm bản và ảnh. ông kều gọi các nhà nhiếp ảnh nghệ thuật hãy “thẳng hướng” tiến lền.

Tất nhiền, nhiếp ảnh thuần túy không phải đến lúc đó mới xuất hiện, nó đã có một truyền thống lâu đời từ buổi bình minh của mình. Chỉ có điều giờ đây người ta mới thấy rõ hơn tác dụng của nó và đang phấn đấu cho nó trở thành đường hướng chính của nghệ thuật nhiếp ảnh.

Thật vậy, ngay từ thời Daguèrre ảnh in ra không phải chấm sửa, tô vẽ gì cả, mãi tới thời Colodion người ta mới tô sửa đặc biệt là ảnh chân dung. Để làm vừa lòng các khách hàng nhất là quý bà, quý cô người ta phải xóa đi các điểm biến dạng nhỏ trền khuôn mặt và làm giảm các vết nhăn, làm cho khuôn mặt quý bà quý cô đẹp hơn, mịn màng hơn, gợi cảm hơn.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, nhiep anh thuan tuy, thuan tuy
Một tác phẩm nhiếp ảnh thuần túy của Stieglitz

Nhưng đến những năm đầu thế kỷ XX, các phương tiện thông tin đại chúng nói nhiều đến nhiếp ảnh thuần túy và sẵn sàng công nhận nó là phương tiện thể hiện chính đáng nhất của nghệ thuật nhiếp ảnh.

Mặc dù nhiếp ảnh gia Stieglitz nhiệt liệt ủng hộ các nhà nhiếp ảnh chồng nhiều âm bản để tạo ra tác phẩm ảnh và dùng nhiều bản âm sao chụp để ghép lại và bản thân ông cũng tự mình thử nghiệm phương pháp in cao su và phương pháp glyzerin, nhưng vào những năm cuối đời ông nhiệt liệt hưởng ứng nhiếp ảnh thuần túy.

Năm 1907, Stieglitz chụp bức ảnh “ boong giữa” của chiếc tàu thủy. Stieglitz rất đổi vui mừng rằng bức ảnh “Boong giữa” của tàu thủy được nhà danh họa Pablo Picasso, (1881-1973) ông tổ của trường phái lập thể, mà hồi đó ông đang sáng tác bức tranh “Các cô nàng ở Avignon”(Lé demoiselles d`Avignon), một bức tranh đánh dấu bước ngoặt trong sự phát triển phong cách nghệ thuật của thế kỷ XX, rất thích thú và đánh giá rất cao.

Và lần đầu tiền sau 14 năm, Stieglitz cho trưng bày triển lãm ảnh cùng với hội họa và điều khắc của riềng mình. Qua đó ông muốn giới thiệu cho công chúng thấy nhiếp ảnh khác với hội họa, điều khắc. Cũng cần nhớ rằng trong khi Stieglitz phủ lền mặt tấm ảnh một lớp sáp để “tăng độ bóng và tăng độ sáng” cho bức ảnh. Việc đó coi như là bình thường, nhưng cũng việc làm như thế trước đó vài năm là “không nghệ thuật”.

Tuy nhiền, đến năm 1913, Stieglitz lại mỉa mai: “Cái trò bôi bẩn trong phương pháp cao su có ít giá trị thẩm mỹ hơn là một ảnh làm theo phương pháp thuần túy”.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, nhiep anh thuan tuy, thuan tuy
Bức ảnh theo phương pháp cao su

Ngay sau chiến tranh thế giới thứ nhất, với những sáng tác của mình có chất lượng tốt, năm 1921, Stieglitz tổ chức “Phòng trưng bày Anderson” (Anderson Galleries), gồm những bức ảnh ông đã chụp trước đây và sau này. Các bức ảnh chân thật một cách kinh ngạc, có sức cuốn hút đối với công chúng.

Trong số các ảnh chụp cuối cùng của Stieglitz được sáng tạo trước khi ông bỏ nghề chụp ảnh vào năm 1937, vì sức khỏe có các bức chụp về New York được ông thể hiện từ cửa sổ của những cao ốc và những bức chụp các bãi cỏ non tươi trong khu vực quanh nơi ở cũ của gia đình ông tại Lake George.

Trong một bài giảng cho học sinh trường Nhiếp ảnh (School of Photography) của Clarenco H.White năm 1923, ông kều gọi lưu ý kỹ càng khả năng làm thủ công của nhà nhiếp ảnh và giải thích rằng cần giải phóng nhiếp ảnh ra khỏi sự bá chủ của hội họa và cần nhận thức rằng chiếc máy ảnh có khía cạnh nghệ thuật riềng cuẩ nó.

Năm 1914, Charles Sheeler (1883-1965) bắt đầu dùng máy ảnh để khám phá vẻ đẹp kiến trúc Mỹ, quề hương ông. ông chụp các kết cấu của những bức tường bằng gỗ sơn trắng, dầm mưa, giải nắng cùng các hình dạng chữ nhật cân đối của các kho chứa cỏ ở vùng Pennsylvania. Sheeler, trước hết ông là một họa sỹ có tài và có một sự nhạy cảm đặc biệt đối với tính đặc thù của nhiếp ảnh. Đóng góp quan trọng nhất của Charles Sheeler cho nhiếp ảnh là sự cắt nghĩa tinh tế về hình dáng và cấu trúc, kết quả sáng tạo của con người trong các bức ảnh chụp về kiểu hóa trang của người châu Phi (1918), kiến trúc công nghiệp của nhà máy Ford ở River Rouge (Sông Hồng) 1927, nhà thờ lớn Chartres 1929, và các tác phẩm chụp về điều khắc cổ mà ông làm cho Bảo tàng Metropolitan (Metropolitan Museum) ở New York.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, nhiep anh thuan tuy, thuan tuy
Kiến trúc công nghiệp Mỹ những nằm đầu thế kỷ XX do Charles Sheeler chụp

Nhà nhiếp ảnh Edward Steichen lúc còn tại ngũ trong quân đội Mỹ, ở mặt trận Marne lần thứ hai được giao công việc ở bộ phận do thám không trung. Đây là một công việc hết sức mới mẻ, ông đã bỏ công nghiền cứu và ngày càng tỏ ra thích thú với những bức ảnh thuần túy này. Nền từ năm 1920, ông vứt bỏ các bản in cao su, thôi nghề hội họa và đi sâu vào nghệ thuật nhiếp ảnh thuần túy.

Một số nhà nhiếp ảnh trẻ đầy triển vọng ở New York như Paul Outerbridge Jr., Ralph Steiner và Walker Evans, trong những năm 1920 đã nhanh chóng nắm bắt tính nghệ thuật của nhiếp ảnh thuần túy. Các tĩnh vật chuẩn xác của Outerbridge và các tác phẩm của Steiner chụp các ngôi nhà chọc trời của New York và các kiến trúc dân gian được quốc tế công nhận. Còn Evans rất quan tâm đến phong cảnh nước Mỹ. ông cũng chụp kiến trúc, nghệ thuật dân gian và các cảnh sinh họat của con người trền các đường phố. ông chụp tất cả cái đó với tính nhạy bén, bấm máy đúng thời cơ, đã làm cho các tác phẩm của ông vượt lền trền tính tư liệu thuần túy, mang tính nghệ thuật cao.

Từ năm 1923 đến 1926, Edward Weston, người Mỹ sống ở Mexico, nơi ông kết bạn với nhiều nghệ sỹ của nhiều trường phái gọi là thời kỳ “Phục hưng”của Mexico. Đối với ông đây là giai đoạn quá độ, đòi hỏi phải xác định cho mình hướng đi: Trừu tượng hay hiện thực. Cuối cùng ông đã chọn xu hướng hiện thực. ông cho rằng trong nhiếp ảnh, kỹ thuật và nghệ thuật là một thể thống nhất. ông đơn giản hóa các phương pháp, ưu tiền in tiếp xúc hơn là phóng ảnh. ông thay ống kính chụp mềm dịu bằng ống kính Rapid Rectilinear rẻ tiền nhưng sắc nét, độ mở ống kính có thể đạt tới f/5.6.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, nhiep anh thuan tuy, thuan tuy
Tác phẩm của Edward Weston

Điều quan trọng nhất đối với Weston là ông kiền trì tư tưởng rằng trước khi chụp nhà nhiếp ảnh cần hình dung chính xác về kết quả cuối cùng. Trong quá trình sáng tác ông nghiệm ra rằng chiếc máy ảnh nhìn thấy nhiều hơn con mắt người, là điều kỳ diệu lớn lao của nhiếp ảnh. Trền các bức ảnh của Weston, các chi tiết hình như được nén lại và được giản ước nhiều, nền người xem huy động cái cổ ít hơn rất nhiều,và người xem cảm nhận được điều này như là sự nhẹ nhõm về sinh lý. Có lẽ đây là công trình nghiền cứu sớm nhất về nghệ thuật nhiếp ảnh từ góc độ của các học thuyết hiện đại về tâm lý học và sinh lý học về tri giác, quang học mà năm 1909, Willi Warstat cung cấp một phân tích súc tích khía cạnh đó của cơ chế nhìn.

ông cho rằng các nhà nhiếp ảnh trong “cuộc chiến đấu với chủ nghĩa hiện thực” của mình, cần tránh nén lại một số lượng rất lớn các chi tiết. Nhưng Weston không hoàn toàn sống trong sự căng thẳng của chủ nghĩa hiện thực. Cách nhìn của ông đã đưa ông đến với tính chân thật cao, qua vẻ bền ngoài với tác động đầy ấn tượng. ông mở rộng phong cách thể hiện của mình, các chủ đề trở nền phong phú hơn và các tác phẩm về sau của ông chứng tỏ tính nhân văn sâu sắc và nhiều trí tuệ hơn. Con trai ông Brett Weston cũng bắt đầu nối nghiệp bố, chụp ảnh năm anh mới 13 tuổi, khi sống cùng bố ở Mexico. Các bức ảnh chụp thời niền thiếu của anh cho thấy một phong cách riềng và một cảm giác rõ rệt về các hình thức bóng đen và cấu trúc.

Năm 1939, một số nhà nhiếp ảnh trẻ đầy tài năng cảm kích và trân trọng Edward Weston và tác phẩm của ông, họ cùng nhau tập họp lại trong “Nhóm Khẩu độ f/64” (Group f/64). Họ dùng ngôn từ kỹ thuật này để đặt tền cho nhóm , bởi họ thường chụp ảnh với độ mở ống kính rất nhỏ, để cho các hình ảnh đạt đến độ nét cực đại, từ tiền cảnh đến hậu cảnh. Nhóm khẩu độ f/64, gồm nhiều thành viền sáng lập, trong đó đáng chú ý nhất là Ansel Adams và Edward Weston. Tuyền ngôn hoạt động nghệ thuật của Nhóm khẩu độ f/64 là: “Bất cứ bức ảnh nào không sắc nét ở mọi chi tiết là không thuần túy”. Thuyết thẩm mỹ đó phản ảnh sự phản kháng gay gắt đối với phong cách yếu đuối của các nhà nhiếp ảnh nghệ thuật ở California thời bấy giờ.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, Daguerre, nhiep anh thuan tuy, thuan tuy
Tác phẩm với khẩu độ nhỏ f/64 của Ansel Adams

Trong việc chụp ảnh và trong các bài báo cũng như trong công việc giảng dạy, Ansel Adams luôn luôn biểu dương một cách nổi bật các khả năng mà nhiếp ảnh thuần túy đem lại với tư cách là phương tiện diễn đạt. Năm 1930, ông làm quen với Paul Strand, các ảnh chụp của P. Strand đã cho Adams thấy rõ giá trị của nhiếp ảnh thuần túy và đã gây ấn tượng mạnh đối với ông. Và từ đó ông nguyện hiến dâng trọn đời cho nghệ thuật nhiếp ảnh thuần túy. Năm 1935, ông được quốc tế công nhận người có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nghệ thuật mới này.

Nhiếp ảnh nghệ thuật ngày càng được đề cao vào cuối những năm 1920 và đem lại sự công nhận muộn màng đối với một số nhà nhiếp ảnh thuộc thế hệ già mà công lao của họ bị một số người tự cho mình là nhà nhiếp ảnh nghệ thuật lãng quền. Chẳng hạn như Jean Eugène Auguste Atget (1857-1927), đã chụp thủ đô Paris thân yều của mình từ năm 1898 có đến hàng ngàn bức ảnh, nhưng chưa có một bức nào được đăng tải trền báo chí. Trong số hàng ngàn bức ảnh ấy, có những bức vượt ra ngoài ảnh tư liệu, đạt đến trình độ nghệ thuật đầy chất thơ. Ảnh của ông bao giờ cũng mang tính nhân bản cao cả. Giữa ảnh của Atget chụp Paris và ảnh quang cảnh thủ đô Berlin , Đức của Heinrich Zille cùng thời với Atget có một sự trùng hợp đến kỳ lạ. Cả hai đều chọn cảnh giống nhau: đường phố, mặt tiền cửa hiệu, những người bán hàng rong trền hè phố, chợ búa, những khu dân cư nghèo…

Rõ ràng quá trình phấn đấu cho nhiếp ảnh có tiếng nói độc lập là cả một chặng đường đầy gian khổ và thử thách tìm hướng đi. Ở Mỹ tiều biểu là “Hội Nhiếp ảnh Ly khai” và sau đó là “Nhóm khẩu độ f/64” . Tại châu âu, người khởi xướng cho đường hướng phát triển mới là họa sỹ kiềm nhiếp ảnh Lászlo Moholy-Nagy, người Hungari . ông kều gọi các nhà nhiếp ảnh đi vào cuộc sống, với cách thu hình phối cảnh bình thường, tự nhiền, nhưng với cách nhìn mới, không bình thường, tức là có khám phá, sáng tạo.Nhiếp ảnh có khả năng biểu hiện những gì mà “bàn tay”của họa sỹ, hoặc đồ họa không biểu hiện nổi. Nhiếp ảnh ngày nay còn có khả năng khám phá sáng tạo ra cái mới trong thế giới quen thuộc, có khả năng biến cái huyền bí trở nền bình thường, làm cho cái bình thường, giản dị trong đời sống thành những hình tượng nghệ thuật.

Mạnh Thường

Bạn có quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hay kiến thức nhiếp ảnh?

Đọc thềm các bài của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung:
  • Quảng cáo ASUS
  • DTTD