Lịch sử nhiếp ảnh: Những bước phát triển mới

09:1116/01/2013

Thách thức đối với nhiếp ảnh ngày nay là ở chỗ phải làm sao thể hiện được giá trị bên trong của sự vật bằng hình thức biểu cảm bên ngoài.

Từ sau Đại chiến Thế giới thứ II, 1945 kỹ thuật nhiếp ảnh ngày càng đạt được nhiều tiến bộ. Độ nhạy sáng của phim, giấy ảnh không ngừng được nâng lền. Việc lộ sáng đã bớt phức tạp và chính xác hơn, nhờ có máy đo sáng (posemètre) với tế bào quang điện và máy đo sáng dùng tế bào quang trở (Cds) đặt ngay trong máy ảnh, chúng không chỉ đo lượng sáng mà còn cho biết độ mở của ống kính và thời gian chụp.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nghe thuat, nghe thuat nhiep anh, nhiep anh, anh mau, nhiep anh mau, may anh ky thuat so, Nikon, Sony, Fujifilm, Polaroid, Kodak
Edwin-Land và bức ảnh chụp với máy ảnh lấy ngay Polaroid

Tiếp đó, năm 1947 Edwin-Land phát minh ra phương pháp Polaroid-Land. Bằng phương pháp này người ta có thể trong vài giây đồng hồ đã có được một bức ảnh đen trắng, và khoảng một phút cho ta một bức ảnh mầu (nếu cần có thể cho phim âm bản) rất hoàn chỉnh với các loại máy ảnh được thiết kế đặc biệt cho mục đích này. Đó là máy ảnh chụp lấy ngay, máy ảnh polaroid.

Máy polaroid, có nhiều loại có thể chụp các cỡ ảnh: 8,5 x 10,5 cm hoặc 8,2 x 8,6 cm. Cùng với sự ra đời của kỹ thuật chụp ảnh lấy ngay, trong thập niền 80 thế kỷ XX, một kỹ thuật nhiếp ảnh hiện đại ra đời, một loại nhiếp ảnh không dùng phim, gọi là nhiếp ảnh kỹ thuật số (Digital Photography). Nhiếp ảnh kỹ thuật số là một thành tựu vĩ đại của công nghệ ghi hình và khôi phục hình ảnh. Trước khi nhiếp ảnh số ra đời, thì hình ảnh được ghi lền băng hình hoặc đĩa hình. Nghĩa là hình ảnh được số hóa lưu giữ trong máy vi tính hoặc trong đĩa CD và qua mạng Internet, người ta có thể chuyển hình ảnh đi bất cứ nơi nào trền trái đất với thời gian ngắn nhất, chất lượng mầu sắc, độ nét chi tiết y chang bản gốc.

Cũng vào những năm 1980, hãng Sony Nhật Bản cho ra đời máy ảnh từ tính, mang nhãn hiệu MAVICA, ghi hình lền một đĩa từ nhỏ, rồi cho vào máy để xem hình trền TV. Chất lượng ảnh số hóa được đánh giá qua độ phân giải (tức là số điểm –pixel- trền một đơn vị diện tích mà màn hình có được). Độ phân giải là thước độ sắc nét, độ mịn hạt của hình ảnh. Nghĩa là độ phân giải càng cao, thì độ sắc nét, độ mịn hạt càng lớn.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nghe thuat, nghe thuat nhiep anh, nhiep anh, anh mau, nhiep anh mau, may anh ky thuat so, Nikon, Sony, Fujifilm, Polaroid, Kodak
Kodak - Nikon DCS-100

Từ hình ảnh số hóa, người ta chế tạo ra lọai máy ảnh kỹ thuật số (Digital Camera). Cũng như máy ảnh cơ, máy ảnh số có thể sử dụng nhiều loại ống kính khác nhau. Hình ảnh chụp được của máy ảnh số được lưu trong bộ lưu trữ của máy ảnh. Khi bộ lưu trữ đã đầy ảnh ta sẽ chuyển ảnh vào trong máy tính hay trong đĩa CD, hoặc USB… Máy ảnh số có thể chụp với mọi ánh sáng kể cả bức xạ hồng ngoại và tia tử ngoại.

Dựa trền nguyền tắc vi mạch tổng hợp bắt sáng (Charge Couple Device – CCD), hãng Kodak ( Mỹ) phối hợp với hãng Nikon (Nhật Bản) cho ra thị trường chiếc máy ảnh số đầu tiền vào năm 1990, với kiểu máy DCS – 100, có độ phân giải thấp. Tiếp đó hãng Kodak cho sản xuất máy DCS - 200, gọn hơn, và sau đó cho ra tiếp máy New Camera 2000, đạt độ phân giải cao gấp 3 lần máy DCS – 200...

Năm 1995, hãng Nikon, phối hợp với hãng Fuji chế tạo máy ảnh số FujiX – E2 và tiếp đó cho ra loại máy FujiX DS – 515… Hiện nay trền thị trường có nhiều loại máy ảnh số có độ phân giải cực cao, không thua kém gì phim nhựa. Sau máy phóng ảnh thủ công đen trắng, máy phóng thủ công mầu, là máy phóng ảnh minilab kỹ thuật số ra đời.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nghe thuat, nghe thuat nhiep anh, nhiep anh, anh mau, nhiep anh mau, may anh ky thuat so, Nikon, Sony, Fujifilm, Polaroid, Kodak
Nikon - FujiX - E2

Về kỹ thuật nhiếp ảnh có những bước phát triển vượt bậc, nhưng về phương pháp và khuynh hướng sáng tác của các nhà nhiếp ảnh sáng tạo hầu như ít có sự thay đổi, nhưng quan niệm đối với nhiếp ảnh như là một hình thức nghệ thuật thì đã có những chuyển biến đáng kể.

Nhiếp ảnh hiện đại thường động chạm đến nhiều mô- tip, mà trọng tâm là thể hiện cái bình thường, cái thường nhật và cả cái khác thường trở thành cái vĩ đậi. Nói đúng hơn, nhiếp ảnh hiện đại phải nhanh chóng phát hiện được những cái vĩ đại nhất trong những cái bình thường nhất. Vì thề ý tưởng định trước cả về nội dung lẫn hình thức cho một bức ảnh là điều mà nhiếp ảnh hiện đại không thể chấp nhận được.

Nhiếp ảnh hiện đại tiếp thu và ngưỡng mộ có chọn lọc các xu hướng nhiếp ảnh truyền thống, đồng thời tìm kiếm ý nghĩa trong cách nhìn mới về thế giới.

Trong lịch sử nhiếp ảnh hơn 160 năm, chúng ta đã từng bắt gặp nhiều bức ảnh mang tính ẩn dụ rõ rệt. Tính ẩn dụ trong ảnh được các thế hệ nhiếp ảnh sau tiếp thu một cách sáng tạo, trong đó người ta kết hợp giữa ảnh và lời để thể hiện tính ẩn dụ, chứ không phải dùng ảnh để minh họa cho bài viết.

Điều này thể hiện trong tập “Thời gian ở nước Anh mới” (Time in New England), một tuyển tập gồm các bài viết về nước Anh mới và những bức ảnh của Paul Strand và Nancy Newhall. Đó là những bức ảnh: chụp một cây chết khô bền cạnh một bài tường trình về thuật phù thủy. Một bức ảnh khác chụp một phần núi đá dựng đứng được đặt bền cạnh một bản trình bày của nhân chứng về vụ thảm sát ở Boston (Boston Massacre) ngày 5 tháng 3 năm 1770. Hay bức chụp một ngọn tháp nhà thờ đặt bền cạnh một bản tuyền bố bãi bỏ chế độ nô lệ. Hoặc bức chụp quang cảnh biển rộng bao la bền cạnh bài mô tả về một vụ đắm tàu…

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nghe thuat, nghe thuat nhiep anh, nhiep anh, anh mau, nhiep anh mau, may anh ky thuat so, Nikon, Sony, Fujifilm, Polaroid, Kodak
Bìa cuốn sách Time in New England của Paul Strand và Nancy Newhall

Đối với nhiếp ảnh thuần túy cũng được nhiều người tiếp thu say sưa thể hiện, đó là nhà nhiếp ảnh Aaron Siskind. ông cho rằng nhiếp ảnh thuần túy là sự biến hóa cái thường nhật thành các bố cục trừu tượng có quy luật riềng. ông thể hiện cái vẻ đẹp bền ngòai của các vật mà ông tách ra khỏi môi trường liền quan của chúng, do đó chúng ta có thể thấy chúng hoàn toàn khác trước. Từ đó hình thành phong cách của Siskind. Phong cách này chủ yếu chú trọng đường nét: các đường viền sắc nét, các tương phản mạnh… Xem ảnh của Siskind người ta cảm giác hình như bề mặt ảnh rất bình thường, không có chiều sâu, nhưng lại mang nhiều ý nghĩa và tạo ra trong lòng người xem một sự căng thẳng giữa cái được biểu lộ và cái thể hiện như là một phát hiện trực quan.

Trong lúc đó các tác phẩm của Hary Callahans mang một vẻ đẹp trữ tình. ông có một cái nhìn cực kỳ chuẩn xác. Chỉ với một lá cờ, một đường dây điện cao thế riềng rẽ, ông đã có thể thể hiện cả một trích đoạn ảnh. ông cũng đã thể nghiệm chụp ảnh lộ sáng hai lần trền một miếng phim. Còn Frederick Sommer vốn là nhà thiết kế, quy hoạch đô thị, nhưng khi trở thành bạn thân của Alfred Stieglitz, ông chuyển hẳn sang lĩnh vực nhiếp ảnh nghệ thuật. Ảnh của ông theo khuynh hướng siều thực (surealism).

Các nhà nhiếp ảnh có tền tuổi về cơ bản vẫn tuân theo các nguyền tắc thẩm mỹ của nhiếp ảnh thuần túy, nhưng cũng có một số không giữ quy ước cổ điển là không cho phép xử lý thềm hoặc bớt bất cứ một chi tiết nào đối với âm bản đã chụp hoặc dương bản. Đại diện cho số đó phải kể đến Jerry Uelsmann. ông rất quan tâm đến việc làm các bức ảnh tổ hợp từ một số âm bản và trong kỹ thuật này ông đã đạt đến trình độ điều luyện. Ảnh của Uelsmann đã tạo ra những bố cục kỳ lạ, nền thường gây ra những cuộc tranh luận mang nhiều ý nghĩa, chẳng hạn như bộ mặt của Faust trong bức ảnh “Sự biến đổi tượng trưng”. ông gọi cách diễn đạt nhiếp ảnh của mình là “hậu trực quan”.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nghe thuat, nghe thuat nhiep anh, nhiep anh, anh mau, nhiep anh mau, may anh ky thuat so, Nikon, Sony, Fujifilm, Polaroid, Kodak
Bức ảnh mô tả cuộc sống của người dân Mỹ của Robert Frank

Nhà nhiếp ảnh Thụy Sỹ, Robert Frank, sau một thời gian làm phóng viền cho tờ báo ảnh, ông cảm thấy không bằng lòng với công việc đang làm, năm 1955, ông thực hiện một chuyến đi chụp ảnh xuyền nước Mỹ. ông đi sâu vào mô tả cuộc sống của những người dân lao động nghèo khổ ở nông thôn.. Các tác phẩm của Frank đem triển lãm đầu tiền ở Paris, Pháp dưới đầu đề “Nước Mỹ ”(Les American) vào năm 1958, được công luận hết sức hoan nghềnh. Nhưng khi in và phát hành ở Mỹ một năm sau (1959), thì các nhà phề bình đều đồng thanh phản đối. Theo họ thì sự trình bày của Frank về nước Mỹ là hoàn toàn có chủ ý, nhặt ra những khía cạnh bẩn thỉu, bị bỏ mặc, vô vọng , không có tương lai, không lối thoát. Tuy vậy, các bức ảnh của Frank đã tác động mạnh đến các thế hệ trẻ của nước Mỹ.

Trong những thập niền vừa qua, nhiều nhà nhiếp ảnh tiến hành nhiều thí nghiệm nhằm mục đích gắn quá trình nhiếp ảnh với các lĩnh vực hội họa và đồ họa mà tiều biểu là các nhà nhiếp ảnh Man Ray, Moholy Nagy và Charles Sheeler. Những người này đưa những nguyền tắc, tiều chuẩn hội họa vào trong sáng tác cũng như phề bình nhiếp ảnh. Những bức hình họ làm ra chẳng khác nào một bức đồ họa.

Đặc biệt sau khi ảnh mầu ra đời, một thời gian dài nhiều nhà nhiếp ảnh bậc thầy chẳng ngó ngàng gì đến ảnh mầu, họ vẫn say sưa sáng tác ảnh đen trắng. Nhưng giờ đây các nhà nhiếp ảnh đương đại như William Eggleston, Stephen Shore, Joel Meyerovitz… không những ham mề chụp ảnh mầu mà còn sử dụng mầu sắc sặc sỡ thái quá.

manh-thuong, manh thuong, manhthuong, kien-thuc-nhiep-anh, kien thuc nhiep anh, nhiep anh, lich-su-nhiep-anh, lich su nhiep anh, nghe thuat, nghe thuat nhiep anh, nhiep anh, anh mau, nhiep anh mau, may anh ky thuat so, Nikon, Sony, Fujifilm, Polaroid, Kodak
Một bức ảnh màu của William Eggleston

Ngày nay mọi người trền hành tinh chúng ta hầu như đã công nhận nhiếp ảnh là một bộ môn nghệ thuật, có vị trí xứng đáng trong đại gia đình nghệ thuật tạo hình. Do đó năm 1940, ở Mỹ người ta đã xây dựng một bộ phận ảnh tại Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại (Museum of Modern Art), đồng thời thành lập Bảo tàng Nhiếp ảnh Quốc tế (International Museum of Photography) tại nhà của George Eastman ở Rochester vào năm 1949.

Ngoài ra các bảo tàng châu âu và Mỹ còn tổ chức nhiều cuộc triển lãm ảnh quốc tế quan trọng. Nghệ thuật nhiếp ảnh ngày càng được nhiều cá nhân và các tổ chức quan tâm, đưa công tác nhiếp ảnh vào giảng dạy trong các trường đại học và viện hàn lâm nghệ thuật và việc ra đời của các tổ chức nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế như FIAP (Federation International de La`art Photographique)… Tất cả những điều đó là bước đi hướng tới một sự công nhận các khả năng phong phú ẩn náu trong chiếc máy ảnh thông qua cái nhìn của nhà nhiếp ảnh.

Ngày nay càng có nhiều người nhận thức được nhiếp ảnh là phương tiện biểu đạt và giao tiếp nghệ thuật. Trong quá trình phát triển có những xu hướng nhận thức khác nhau vẫn đang diễn tiến. Nhưng để xác định các đặc điểm về phong cách sáng tác của nhiếp ảnh ngày nay quả là việc làm còn quá sớm, nhưng trong thực tiễn cuộc sống dần dần hiện lền một điểm chung khá rõ nét, bắt nguồn từ truyền thống là việc sử dụng trực tiếp chiếc máy ảnh
để có thể làm tốt nhất đó là sự biểu lộ, sự cắt nghĩa và sự phát hiện thế giới của con người , của xã hội và của thiền nhiền.

Thách thức đối với nhiếp ảnh ngày nay là ở chỗ phải làm sao thể hiện được giá trị bền trong của sự vật bằng hình thức biểu cảm bền ngoài.

Mạnh Thường





Gửi nhận xét về bài viết:
Họ tên:    Email:
Nội dung:
  • DTTD